FDI là gì? Vai trò của đầu tư nước ngoài (FDI) trong tổng thể phát triển kinh tế

0
Thuật ngữ đầu tư

Theo khảo sát đánh giá, hiện nay số lượng doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam và từ Việt Nam ra nước ngoài ngày càng tăng. Theo đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức thâm nhập vào thị trường nước ngoài với sự kiểm soát chặt chẽ. Mục đích mà các công ty đầu tư vốn hoặc vốn cổ phần vốn vào các quốc gia khác là nhằm mua lại hoặc xây dựng các công ty con, các nhà máy sản xuất, văn phòng bán hàng hoặc các cơ sở cần thiết khác. Vậy cụ thể đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là gì, có đặc điểm gì cũng như có vai trò như thế nào trong tổng thể phát triển kinh tế? Tất cả sẽ được giải đáp trong bài viết dưới đây. 

Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

FDI là gì?

FDI là gì?

Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài được hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy theo từng khía cạnh xem xét như sau: 

Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF): FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện trong một công ty hoạt động trong một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nước nhận đầu tư (nước sở tại) nhằm đạt được  lợi ích lâu dài. Mục đích của chủ đầu tư là có được quyền quản lý thực sự.

Theo Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD): FDI được thực hiện nhằm thiết lập với một doanh nghiệp các mối quan hệ kinh tế lâu dài, đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo cho việc quản lý doanh nghiệp nói trên bị ảnh hưởng đối với bằng cách: (i) Thành lập hoặc mở rộng một chi nhánh hoặc một doanh nghiệp thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư; (ii) Mua lại toàn bộ doanh nghiệp hiện có; (iii) Tham gia vào một doanh nghiệp mới; và (iv) cấp tín dụng dài hạn (>5 năm).

UNCTAD xác định: FDI chính là hoạt động đầu tư mang tính dài hạn để nhằm mục đích đem về những lợi ích cũng như sự kiểm soát lâu dài trong một doanh nghiệp (chi nhánh ở nước ngoài) ở một nước khác bởi một thực thể (doanh nghiệp mẹ hoặc nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài) của một đất nước. Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là có tác động lớn đến hoạt động quản trị của các công ty cư trú trong nền kinh tế đó. Định nghĩa này không cho chúng ta biết một việc đầu tư chính xác là gì.

Theo WTO cho rằng: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài diễn ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước tiếp nhận đầu tư) với quyền quản lý tài sản đó”. Theo đó, từ khái niệm này có thể thấy WTO muốn nhấn mạnh rằng FDI là một tài sản và phương diện quản lý chính là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Nhà đầu tư trong trường hợp này thường được gọi là “công ty mẹ” và “chi nhánh công ty” hay “công ty con” chính là các tài sản.

Về cơ bản, khái niệm của các tổ chức trên đây đều thống nhất với nhau về lợi ích, vai trò và mối quan hệ giữa nhà đầu tư với thời gian trong hoạt động FDI. Trong các định nghĩa trên đây thì định nghĩa do IMF và UNCTAD đưa ra dựa trên khái niệm về cán cân thanh toán chính là định nghĩa FDI được quốc tế chấp nhận rộng rãi nhất hiện nay.

Tóm lại, có thể hiểu một cách đơn giản: FDI là một hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư của một nước đầu tư cho một dự án ở nước khác một phần vốn đủ lớn hay toàn bộ vốn để nhằm mục đích giành quyền tham gia kiểm soát hoặc kiểm soát dự án đó.

Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

Đầu tư trực tiếp nước ngoài có một số đặc điểm cơ bản như sau:

– FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân và tìm kiếm lợi nhuận chính là mục đích hàng đầu của hoạt động này.

– Theo quy định của luật pháp từng nước, các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn điều lệ hoặc vốn pháp định để giành quyền tham gia kiểm soát hoặc kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư.

– Quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sẽ được quy định dựa trên tỷ lệ góp vốn của các chủ đầu tư, đồng thời tỷ lệ này cũng được áp dụng để phân chia lợi nhuận và rủi ro.

– Chủ đầu tư sẽ tự đưa ra quyết định đầu tư và sản xuất kinh doanh cũng như tự chịu trách nhiệm về lỗ, lãi.

– Thông thường, FDI sẽ kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhận đầu tư để thực hiện dự án thông qua việc đưa thiết bị, máy móc, bí quyết kỹ thuật, bằng phát minh, sáng chế, cán bộ quản lý,… vào nước nhận đầu tư.

Xem thêm: Vốn đầu tư nước ngoài là gì?

Đầu tư trực tiếp nước ngoài gồm có những hình thức nào?

Có 3 hình thức để đầu tư trực tiếp nước ngoài

Có 3 hình thức để đầu tư trực tiếp nước ngoài

Có 3 hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài cụ thể như sau:

Đầu tư theo hình thức thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn từ nhà đầu tư nước ngoài

Theo quy định của pháp luật doanh nghiệp tại Việt nam, nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập công ty. Tuy nhiên, trước đó nhà đầu tư cần phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện về vốn được quy định tại Khoản q Điều 22 Luật Đầu tư 2014; bên cạnh đó theo quy định tại Điều 37 Luật Đầu tư 2014 thì nhà đầu tư cần có dự án đầu tư và phải xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.

Đầu tư theo hình thức thành lập doanh nghiệp liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước hoặc Chính phủ trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.

Tại Việt Nam, hình thức này rất phổ biến. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, doanh nghiệp liên doanh được thành lập tại nước sở tại trên cơ sở hợp đồng liên doanh được ký kết giữa một bên là cơ quan chính phủ nước sở tại hoặc nhà đầu tư trong nước với một bên là nhà đầu tư nước ngoài.

Đầu tư theo hình thức hợp đồng PPP

Đây là hình thức đầu tư theo hợp đồng mà tại đó nhà đầu tư ký kết với cơ quan nhà nước có thẩm quyền hợp đồng PPP với mục đích thực hiện dự án đầu tư xây dựng mới hoặc nâng cấp, cải tạo, mở rộng, quản lý cũng như cung cấp dịch vụ công hoặc vận hành công trình kết cấu hạ tầng.

Xem thêm: So sánh đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài

Một số mặt thuận lợi và hạn chế của việc đầu tư trực tiếp nước ngoài 

FDI có những mặt thuận lợi và hạn chế riêng

FDI có những mặt thuận lợi và hạn chế riêng

Về mặt thuận lợi

– FDI không để lại gánh nặng nợ cho Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư

– Nhà đầu tư nước ngoài sẽ tự bỏ vốn ra để đầu tư kinh doanh và trực tiếp quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh cũng như chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả đầu tư. Do đó, các nước tiếp nhận FDI sẽ ít phải chịu những điều kiện ràng buộc kèm theo.

– Thông qua việc liên doanh với nước ngoài, vốn đầu tư của các công ty trong nước có thể giảm thiểu được các rủi ro về tài chính, trong trường hợp xấu nhất, các đối tác nước ngoài sẽ là người chia sẻ rủi ro với các công ty của nước sở tại khi có rủi ro xảy ra.

– Kèm theo FDI đó là kỹ thuật, công nghệ, phương thức quản lý tiên tiến, cho phép tạo ra các sản phẩm mới, mở ra cho nước tiếp nhận đầu tư thị trường mới,… chứ không chỉ là vốn đơn thuần. Đây chính là điểm hấp dẫn quan trọng của FDI, vì hầu hết trình độ khoa học và công nghệ tại các nước đang phát triển còn thấp, trong khi những kỹ thuật mới hầu hết đều chủ yếu xuất phát từ các nước công nghiệp phát triển, đây chính là cách để giúp các nước đang phát triển rút ngắn khoảng cách và đuổi kịp các nước công nghiệp phát triển.

Mỗi nước có cách đi riêng để nâng cao trình độ công nghệ tùy theo hoàn cảnh cụ thể của mình, tuy nhiên cách tiếp cận nhanh và trực tiếp cũng như thuận lợi nhất chính là thông qua FDI. Thực tế cho thấy FDI đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển giao công nghệ cho các nước đang phát triển.

– FDI có tác động mạnh mẽ đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước tiếp nhận và thúc đẩy về nhiều mặt như: cơ cấu vùng lãnh thổ, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vốn đầu tư, cơ cấu các thành phần kinh tế, cơ cấu lao động, cơ cấu công nghệ,…

– Nước tiếp nhận FDI có điều kiện thuận lợi để gắn kết nền giữa kinh tế trong nước với hệ thống phân phối, sản xuất, trao đổi quốc tế, thúc đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước này.

– Nhờ tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, các nước sở tại có điều kiện thuận lợi để có thể tiếp cận và thâm nhập vào thị trường quốc tế và mở rộng thị trường xuất khẩu cũng như thích ứng nhanh hơn với những thay đổi của thị trường thế giới…

– FDI có vai trò làm cầu nối, thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế, là nhân tố thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa kinh tế thế giới.

Về mặt hạn chế

Việc sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nhiều có thể dẫn đến việc thiếu chú trọng huy động nguồn vốn trong nước, điều này có thể dẫn đến cơ cấu đầu tư bị mất cân đối, có thể khiến cho nền kinh tế bị quá phụ thuộc vào vốn đầu tư nước ngoài. 

Do đó, tính độc lập tự chủ có thể bị ảnh hưởng nếu như tỷ trọng FDI trong tổng vốn đầu tư phát triển chiếm quá lớn, khiến cho nền kinh tế phát triển có tính lệ thuộc bên ngoài, thiếu vững chắc.

Đôi khi các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thực hiện các chính sách cạnh tranh thông qua việc bán phá giá, độc chiếm hoặc kiểm soát thị trường, loại trừ đối thủ cạnh tranh khác, lấn át các doanh nghiệp trong nước.

Thực tế cho thấy, khi tiến hành các dự án liên doanh, đối tác nước ngoài đã tranh thủ góp vốn bằng những thiết bị, vật tư cũ kỹ lạc hậu, đã đến thời hạn thanh lý hoặc đã qua sử dụng, điều này đã khiến cho nước tiếp nhận đầu tư bị thiệt hại không nhỏ. 

Do có sức mạnh tài chính vượt trội, Sự hiện diện của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thông qua sức mạnh vượt trội về tiềm lực tài chính gây ra một số tác động xấu đến kinh tế – xã hội, chẳng hạn như: làm cho sự phân hóa trong các tầng lớp nhân dân gia tăng, làm tăng chênh lệch về thu nhập, tăng mức độ chênh lệch phát triển giữa các vùng.

Với những mặt bất lợi của FDI, nước tiếp nhận FDI có thể hạn chế và giảm thiểu những tác động tiêu cực này nếu có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, đầy đủ và có những biện pháp phù hợp từ đó xử lý mối quan hệ giữa nhà đầu tư nước ngoài với lợi ích quốc gia một cách hài hòa để tạo nên lợi ích tổng thể tích cực.

Cách phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài

Có thể phân loại các hoạt động FDI dựa theo nhiều hình thức khác nhau, cụ thể:

Theo cách thức xâm nhập

– Đầu tư mới (new investment): là việc một công ty đầu tư để xây dựng một cơ sở marketing, một cơ sở sản xuất hay cơ sở hành chính mới, trái ngược với việc mua lại các cơ sở sản xuất kinh doanh hiện đang hoạt động. Như tên gọi đã thể hiện, thường bên đầu tư sẽ mua một mảnh đất trống và xây dựng lên một chi nhánh marketing, nhà máy sản xuất hoặc các cơ sở khác để phục vụ cho mục đích sử dụng của mình. 

Mua lại (acquisitions) là việc đầu tư hay trực tiếp mua một cơ sở sản xuất kinh doanh hay công ty đang hoạt động.

Sáp nhập (merge) – Sáp nhập (merge) được hiểu là một hình thức mua lại đặc biệt, trong đó hai công ty sẽ cùng góp vốn để thành lập một công ty mới lớn hơn. Sáp nhập là hình thức phổ biến nhất giữa những công ty có cùng quy mô vì họ có khả năng hợp nhất những hoạt động của mình trên cơ sở cân bằng tương đối. Tương tự như liên doanh, sáp nhập giữa hai công ty với nhau có thể tạo ra nhiều kết quả tích cực, gồm: sự chia sẻ nguồn lực và học hỏi lẫn nhau giữa các đối tác, tăng tính hiệu quả kinh tế của quy mô, giảm thiểu chi phí thông qua việc loại bỏ các hoạt động dư thừa, các chủng loại sản phẩm, mở rộng dịch vụ bán hàng và sức mạnh thị trường lớn hơn. 

Sáp nhập được hiểu là một hình thức đặc biệt của mua lại

Sáp nhập được hiểu là một hình thức đặc biệt của mua lại

Theo đó, do có những khác biệt về văn hóa, giá trị doanh nghiệp và chính sách cạnh tranh cũng như phương thức hoạt động giữa các quốc gia nên việc sáp nhập qua biên giới cũng đối mặt với nhiều thách thức hơn. Để thành công, trước khi sáp nhập đòi hỏi phải có sự nghiên cứu, lập kế hoạch và những cam kết chắc chắn.

Theo định hướng của nước nhận đầu tư

– FDI thay thế nhập khẩu: Hoạt động FDI được tiến hành để nhằm mục đích sản xuất và cung ứng các sản phẩm cho thị trường nước sở tại mà trước đây nước này phải nhập khẩu. Hình thức FDI này bị ảnh hưởng nhiều bởi các yếu tố ảnh hưởng như dung lượng thị trường và các rào cản thương mại của nước sở tại và chi phí vận chuyển qua lại.

– FDI tăng cường xuất khẩu: Thị trường mà FDI “nhắm” tới không phải hoặc không chỉ giới hạn ở nước sở tại mà còn là các thị trường rộng lớn hơn trên toàn thế giới và thậm chí có thể là cả thị trường ở nước chủ đầu tư. Theo đó, khả năng cung cấp đầu vào giá rẻ chẳng hạn như nguyên vật liệu và bán thành phẩm từ các nước nhận đầu tư chính là các yếu tố quan trọng tác động đến dòng vốn FDI theo hình thức.

–   FDI theo các định hướng khác của Chính phủ: Chính phủ nước nhận đầu tư có thể được sử dụng các biện pháp khuyến khích đầu tư để điều chỉnh dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào quốc gia theo đúng ý định của mình, chẳng hạn như tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài để giải quyết tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán.

Theo hình thức pháp lý

– Hợp đồng hợp tác kinh doanh: Là văn bản ký thỏa thuận do hai bên hoặc nhiều bên ký kết để tiến hành thực hiện đầu tư kinh doanh, trong đó có quy định rõ ràng về trách nhiệm phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên mà không thành lập pháp nhân mới.

– Doanh nghiệp liên doanh: Là doanh nghiệp được thành lập tại nước sở tại trên cơ sở hợp đồng thỏa thuận liên doanh do hai bên hoặc nhiều bên ký kết, trong trường hợp đặc biệt có thể được thành lập trên cơ sở ký kết Hiệp định giữa các nước với mục đích tiến hành các hoạt động đầu tư và kinh doanh tại nước sở tại.

– Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: Là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, được nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại quốc gia sở tại, theo đó nhà đầu tư nước ngoài sẽ tự quản lý cũng như chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.

– BOT, BTO, BT.

BOT (Build-Operate-Transfer) có nghĩa là Xây dựng – Vận hành – Chuyển giao: Đây là hình thức đầu tư dưới dạng hợp đồng do nhà nước kêu gọi bỏ vốn xây dựng trước (Buid) từ các nhà đầu tư tư nhân, sau đó vận hành và khai thác (Operate) trong một khoảng thời gian và sau đó chuyển giao (Transfer) cho nhà nước sở tại.

Tương tự BOT còn có hai loại hình khác là BT và BTO, cụ thể:

  • BTO (Build – Transfer – Operate) có nghĩa xây dựng – chuyển giao – kinh doanh: Đây là hình thức đầu tư được cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư ký kết với nhau để nhằm mục đích xây dựng công trình và công trình đó sẽ được nhà đầu tư chuyển giao cho nước sở tại sau khi công trình này xây dựng xong; Chính phủ dành quyền kinh doanh công trình đó cho nhà đầu tư để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận trong một thời hạn nhất định. 
  • Còn BT (Build – Transfer) có nghĩa xây dựng – chuyển giao: Đây là hình thức đầu tư mà giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư ký kết với nhau để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng và nhà đầu tư chuyển giao công trình này cho nước sở tại sau khi xây dựng xong; Chính phủ sẽ dựa theo thoả thuận trong hợp đồng BT và thanh toán cho nhà đầu tư hoặc tạo điều kiện để cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận. Theo đó, tùy theo từng công trình cũng như mục đích của nhà nước mà họ thực hiện theo các loại hình BOT, BTO hay BT.

Xem thêm: Đầu tư quốc tế gián tiếp là gì?

Vai trò của đầu tư nước ngoài (FDI) trong tổng thể phát triển kinh tế

Vai trò của đầu tư nước ngoài (FDI) trong tổng thể phát triển kinh tế

Đổi với nước đầu tư

Đầu tư ra nước ngoài giúp nâng cao hiệu quả sử dụng lợi thế sản xuất tại nước sở tại, giảm giá thành sản phẩm, cải thiện lợi nhuận vốn đầu tư, xây dựng thị trường cung ứng nguyên liệu ổn định với giá cả phải chăng. Mặt khác, đầu tư ra nước ngoài giúp tăng sức mạnh kinh tế và nâng cao uy tín chính trị. Bằng cách xây dựng nhà máy sản xuất và thị trường tiêu thụ ở nước ngoài mà các nước đầu tư có thể mở rộng thị trường tiêu thụ và vượt qua các rào cản phòng vệ thương mại của các nước khác.

Đối với nước nhận đầu tư

– Đối với các nước có nền kinh tế phát triển, đối với việc giải quyết các vấn đề về kinh tế, xã hội như thất nghiệp và lạm phát,… FDI đóng vai trò rất lớn. Theo đó, các tổ chức kinh tế nước ngoài sẽ thông qua FDI và mua lại các công ty hay các doanh nghiệp có nguy cơ bị phá sản, giúp tình hình thanh toán được cải thiện và tạo việc làm cho người lao động. Bên cạnh đó, FDI còn giúp cải thiện tình hình bội chi ngân sách bằng cách tạo những điều kiện để tăng thu ngân sách dưới hình thức các loại thuế, từ đó tạo ra môi trường cạnh tranh thúc đẩy kinh tế và thương mại phát triển, tạo điều kiện để cán bộ quản lý và người lao động học hỏi được những kinh nghiệm quản lý từ các nước khác; 

– Đối với các nước đang phát triển, đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp đẩy nhanh sự phát triển kinh tế bằng cách tạo ra các doanh nghiệp mới, thu hút nhiều lao động và xóa bỏ một phần tình trạng thất nghiệp ở các nước này. Bên cạnh đó, còn giúp khắc phục tình trạng thiếu vốn kéo dài tại các nước đang phát triển. Nhờ vậy mà giải quyết được mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển to lớn với nguồn tài chính khan hiếm, nhất là trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Theo sau FDI là máy móc thiết bị và công nghệ mới giúp cho các nước đang phát triển có thể dễ dàng tiếp cận với khoa học – kỹ thuật mới. Quá trình đưa công nghệ vào sản xuất giúp tiết kiệm được chi phí và khả năng cạnh tranh của các nước đang phát triển trên thị trường quốc tế được nâng cao hơn.

Theo đó, những kiến thức hiện đại về quản lý kinh tế và xã hội được du nhập vào các nước đang phát triển cùng với FDI, các tổ chức sản xuất trong nước theo kịp các phương thức quản lý công nghiệp hiện đại và lực lượng lao động dần quen với tác phong làm việc công nghiệp, dần dần hình thành đội ngũ những nhà doanh nghiệp giỏi. 

FDI giúp các nước đang phát triển mở cửa thị trường hàng hóa nước ngoài và đi kèm với nó là không ngừng mở rộng những hoạt động marketing. FDI thông qua việc đánh thuế các công ty nước ngoài giúp tăng thu cho ngân sách nhà nước. Từ đó giúp cho các nước đang phát triển có nhiều khả năng hơn trong việc huy động vốn cho các dự án phát triển.

Vai trò của FDI trong việc phát triển kinh tế đất nước tại Việt Nam

Tại Việt Nam, trong phát triển kinh tế đất nước FDI đóng một vai trò rất quan trọng. Theo công bố của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) về tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong 7 tháng năm 2022. Theo đó, tính đến ngày 20/7/2022 tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam đạt gần 15,54 tỷ USD, so với cùng kỳ năm trước giảm 7,1%.

Trong đó, vốn đăng ký cấp mới có 927 dự án được cấp phép với số vốn đăng ký đạt 5,72 tỷ USD, về số dự án giảm 7,9% so với cùng kỳ năm trước và giảm 43,5% về số vốn đăng ký; vốn đăng ký điều chỉnh có 579 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư tăng thêm 7,24 tỷ USD, so với cùng kỳ năm trước tăng 59,3%; có 2.072 lượt vốn đăng ký góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 2,58 tỷ USD, so cùng kỳ năm trước tăng 25,7%.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo nếu tính cả vốn đăng ký mới và vốn đăng ký điều chỉnh của các dự án đã cấp phép từ những năm trước là đạt 9,37 tỷ USD, trong tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm chiếm 72,3%; đối với hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 2,06 tỷ USD, chiếm 15,9%; chiếm 11,8% thuộc về các ngành còn lại đạt 1,53 tỷ USD.

Tại Việt Nam, trong phát triển kinh tế đất nước FDI đóng một vai trò rất quan trọng

Tại Việt Nam, trong phát triển kinh tế đất nước FDI đóng một vai trò rất quan trọng

Có thể thấy, mặc dù sau những ảnh hưởng tiêu cực của dịch bệnh COVID-19 số vốn đăng ký mới chưa hoàn toàn phục hồi nhưng về vốn điều chỉnh và vốn đăng ký góp vốn, mua cổ phần lại đang có xu hướng tăng lên. Theo Đại diện Cục Đầu tư nước ngoài cho rằng, việc gia tăng vốn đầu tư cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài vẫn đang tiếp tục đặt niềm tin vào nền kinh tế cũng như môi trường đầu tư của Việt Nam và đưa ra các quyết định đầu tư mở rộng các dự án hiện hữu.

Theo ông Đỗ Nhất Hoàng – Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài cho biết, trong 7 tháng năm 2022 vốn đầu tư thực hiện của các dự án đầu tư nước ngoài vẫn giữ đà tăng với mức tăng 10,2% so với cùng kỳ năm 2021 và so với 6 tháng tăng hơn 1,3 điểm phần trăm.

Trong top các ngành thu hút FDI thì ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục dẫn đầu với số vốn đạt 8,87 tỷ USD, trong tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện chiếm 76,7%; sau đó là hoạt động kinh doanh bất động sản chiếm 8,7%, đạt 1.004,8 triệu USD; còn 7,9% là các ngành phân phối điện, khí đốt, sản xuất, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 912,9 triệu USD.

Xem thêm: Thu hút vốn đầu tư nước ngoài là gì?

Theo nhiều chuyên gia kinh tế, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Việt Nam đã thu hút được nhiều dự án FDI lớn, điều này không chỉ tạo ra cho người lao động công ăn việc làm mà còn góp phần làm tăng sức hấp dẫn của môi trường đầu tư, qua đó, ngày càng nâng cao vị thế của Việt Nam trên bản đồ kinh tế thế giới ngày.

Về đối tác đầu tư tại Việt Nam, Cục Đầu tư nước ngoài cho biết đã có 78 quốc gia, vùng lãnh thổ có dự án được cấp phép mới trong 7 tháng năm 2022 và nhà đầu tư lớn nhất là Đan Mạch với 1,32 tỷ USD, trong tổng vốn đăng ký cấp mới chiếm 23,1%; sau đó là Singapore với 1,22 tỷ USD, chiếm 21,3%; Trung Quốc 651,4 triệu USD, chiếm 11,4%; Hàn Quốc 567,8 triệu USD, chiếm 9,9%; và 9,3% là Nhật Bản với 534,8 triệu USD,…

Kết luận

Trên đây là những thông tin về đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng như vài trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong tổng thể phát triển kinh tế. Bài viết được tổng hợp và biên soạn bởi biên tập viên trang daututietkiem.vn. Nếu bạn có những thắc mắc liên quan đến thuật ngữ đầu tư, hãy để lại thông tin phía dưới phần bình luận nhé.

Đánh giá bài viết

Tôi là Lan Anh - Biên tập viên phân tích tài chính, với 5 năm tìm hiểu về thị trường tài chính cũng như đầu tư. Rất hy vọng những kiến thức mà tôi học hỏi và tích lũy được có thể hỗ trợ, cung cấp đến các bạn những thông tin chính xác, tư vấn hỗ trợ xử lý các dịch vụ tài chính, đầu tư hiệu quả nhất!

dang-ky-dau-tu-nhat-nam

ĐĂNG KÝ TƯ VẤN MIỄN PHÍ NGAY

    BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC