Ngân hàng đầu tư là gì? Cấu trúc, vai trò và nghiệp vụ ngân hàng đầu tư

0
Thuật ngữ đầu tư

Hiện nay, trong hệ thống tài chính ngân hàng, ngân hàng đầu tư đang phát triển một cách mạnh mẽ và là một trong những chủ thể quan trọng trong hoạt động của thị trường vốn. Vậy ngân hàng đầu tư là gì? Bao gồm các nghiệp vụ gì cũng như có chức năng, vai trò như thế nào? Hãy cùng tìm hiểu rõ qua nội dung bài viết dưới đây.

Ngân hàng đầu tư là gì?

Ngân hàng đầu tư có tên tiếng Anh là Investment Bank, đây là ngân hàng hoạt động chủ yếu trên thị trường vốn – thị trường tài chính trung hạn và dài hạn. Vai trò của ngân hàng đầu tư là giúp huy động vốn trung và dài hạn cho các doanh nghiệp và nhà nước thông qua việc phát hành chứng khoán.

Ngân hàng đầu tư cũng là tổ chức đứng giữa các chủ thể cung và cầu vốn, giúp cho chúng có thể dễ dàng gặp nhau hơn. Do đó ngân hàng đầu tư còn có tên gọi khác là định chế tài chính bán trung gian.

Ngân hàng đầu tư là ngân hàng hoạt động chủ yếu trên thị trường vốn - thị trường tài chính trung hạn và dài hạn

Ngân hàng đầu tư là ngân hàng hoạt động chủ yếu trên thị trường vốn – thị trường tài chính trung hạn và dài hạn

Đặc điểm của ngân hàng đầu tư

– Hoạt động chủ yếu của ngân hàng đầu tư chính là tư vấn, bảo lãnh phát hành chứng khoán và thông qua chứng khoán cho vay trung và dài hạn. Theo đó, nguồn vốn của ngân hàng đầu tư đa phần là đến từ việc huy động bằng cách phát hành các trái phiếu trung dài hạn.

– Ngân hàng đầu tư hướng tới mục tiêu trở thành một định chế tài chính kinh doanh đa dạng và đã mở rộng các loại hình nghiệp vụ sang các lĩnh vực khác như: Nghiệp vụ đầu tư, nghiên cứu,…

– Do không nhận tiền gửi của công chúng nên số lượng chi nhánh của ngân hàng đầu tư khá ít.

– Ngân hàng đầu tư cần có đội ngũ chuyên viên giỏi về giám định, thẩm định cũng như kế toán,… 

Về cơ bản, ngân hàng đầu tư cũng tương tự như công ty chứng khoán, tuy nhiên so với công ty chứng khoán thì mức độ phát triển của ngân hàng đầu tư cao hơn với các loại nghiệp vụ phức tạp hơn. Tại Việt Nam hiện nay vẫn chưa xuất hiện mô hình hóa của một ngân hàng đầu tư đúng nghĩa.

Tại Việt Nam hiện nay có những ngân hàng đầu tư nào?

Tại Việt Nam, Ngân hàng đầu tư nổi bật nhất chính là Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam BIDV.

Bên cạnh đó, nếu xét về bản chất thì các Công ty Chứng Khoán cũng hoạt động tương tự như các ngân hàng đầu tư tuy nhiên các sản phẩm và dịch vụ thì phát triển ở mức độ kém hơn. Hiện nay, theo quy định của pháp luật hiện hành, nếu chưa được sự cho phép của Ngân hàng Nhà nước thì các ngân hàng thương mại không được phép thực hiện các hoạt động của công ty chứng khoán, do vậy các ngân hàng thương mại thường thành lập các công ty con để có thể thực hiện các hoạt động của công ty chứng khoán, được gọi là công ty chứng khoán.

Xem thêm: Hoạt động kinh doanh trái phiếu của ngân hàng thương mại Việt Nam

Cấu trúc và vai trò của ngân hàng đầu tư

Cấu trúc của ngân hàng đầu tư

Thông thường, ngân hàng đầu tư được phân thành 3 bộ phận chính như: Front office, Middle Office, Back Office. Trong đó:

Front office

Dịch vụ này hoạt động tương tự như một ngân hàng thương mại và thường bao gồm các dịch vụ như:

  • Ngân hàng đầu tư
  • Quản lý đầu tư
  • Nghiên cứu thị trường
  • Tư vấn chiến lược

Middle office

Dịch vụ Ngân hàng Đầu tư Middle office hạn chế khách hàng, làm việc chủ yếu với các đối tác chuyên nghiệp như chính phủ, ngân hàng khác, công ty bảo hiểm, đơn vị tài chính,… Và cung cấp cho các đối tượng lớn dòng vốn lớn.

Các dịch vụ chính: 

  • Quản lý rủi ro
  • Quản lý tài chính
  • Tư vấn luật pháp

Back office

Dịch vụ Ngân hàng Đầu tư Back office xử lý chủ yếu các vấn đề giấy tờ và số tiền nhỏ như những thứ liên quan đến xác nhận thương mại, đảm bảo chính xác rằng các chứng khoán được mua/bán và thanh toán với số tiền chính xác, nền tảng phần mềm và công nghệ cho phép nhà đầu tư thực hiện công việc của họ, tạo ra các thuật toán giao dịch mới.

Vai trò của ngân hàng đầu tư

Với sự phát triển mạnh mẽ của ngành tài chính như hiện nay thì ngân hàng đầu tư đóng vai trò là một định chế tài chính quan trọng đối với nền kinh tế hoạt động trên thị trường vốn:

Ngân hàng đầu tư làm trung gian tài chính

Bên cạnh việc hỗ trợ các tổ chức phát hành định giá cổ phiếu mới trong đợt chào bán lần đầu hoặc tiếp theo thì ngân hàng đầu tư cũng đóng vai trò làm thành viên trung gian giúp tìm kiếm cho trái phiếu doanh nghiệp các nhà đầu tư. 

Theo đó, ngân hàng đầu tư bắt đầu vai trò bằng việc bảo lãnh phát hành dưới hình thức tư vấn và tiếp tục cho đến khi phân phối chứng khoán. Bên cạnh đó, ngân hàng đầu tư cũng kiểm tra, xem xét về tính chính xác đối với các báo cáo tài chính của công ty và sau đó trước khi chứng khoán được đưa ra để bán trên sàn giao dịch sẽ đưa ra cho các nhà đầu tư bản cáo bạch giải thích việc chào bán.

Ngân hàng đầu tư là cố vấn tài chính đặc lực

Trong các công ty, doanh nghiệp lớn, ngân hàng đầu tư đóng vai trò là một cố vấn tài chính đắc lực cho các nhà đầu tư tổ chức lớn, theo đó ngân hàng đầu tư hoạt động tương tự như một đối tác đáng tin cậy cung cấp tư vấn chiến lược về nhiều vấn đề tài chính khác nhau và đưa ra các giải pháp, hướng đi, hướng phát triển, đồng thời định hướng một cách chính xác và đầy đủ về xu thế của thị trường tài chính trong và ngoài nước từ đó giúp công ty lớn mạnh, có con đường đi đúng đắn nhất. Họ hoàn thành nhiệm vụ này bằng cách kết hợp sự hiểu biết về mục tiêu, ngành công nghiệp và thị trường toàn cầu với tầm nhìn chiến lược được đào tạo để phát hiện và đánh giá các cơ hội và thách thức ngắn hạn và dài hạn đối với khách hàng của họ.

Ngân hàng đầu tư đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế hoạt động trên thị trường vốn

Ngân hàng đầu tư đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế hoạt động trên thị trường vốn

Trợ giúp sáp nhập và mua lại

Trợ giúp sáp nhập và mua lại chính là một trong những vai trò vô cùng quan trọng của ngân hàng đầu tư. Theo đó, trong việc sáp nhập hoặc mua lại, đóng góp của ngân hàng đầu tư chính là đưa ra mức giá hợp lý, phù hợp với tình hình của hai bên và xu thế thị trường thông qua cái nhìn, đánh giá mang tính khách quan của bản thân. Từ đó, mang lại cho các công ty, doanh nghiệp nói riêng những thuận lợi to lớn cũng như đem lại sự ổn định của thị trường tài chính ngân hàng nói chung. 

Đồng thời, ngân hàng đầu tư cũng hỗ trợ rất lớn trong việc cấu trúc và tạo thuận lợi để việc đàm phán, trao đổi, hợp nhất được diễn ra một cách suôn sẻ, đáp ứng nhu cầu, quyền lợi cũng như mong muốn của mỗi bên. 

Bộ phận nghiên cứu

Nhiệm vụ của bộ phận nghiên cứu của ngân hàng đầu tư là thực hiện nghiên cứu các công ty, sau đó viết ra báo cáo về khách hàng tiềm năng cũng như thực hiện nhiệm vụ về xếp hạng giữa “mua”, “giữ”, “bán”. Theo đó, kết quả của việc nghiên cứu này đóng góp vô cùng quan trọng đối với việc hỗ trợ các nhà giao dịch và bán hàng dù nghiên cứu này có thể không tạo ra doanh thu. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng sẽ cung cấp cho các khách hàng bên ngoài những lời khuyên về tư vấn đầu tư với hy vọng rằng những khách hàng này sẽ thực hiện mua bán như lời khuyên của họ và hoàn tất giao dịch thông qua sàn giao dịch của ngân hàng. 

Đồng thời, bộ phận nghiên cứu này cũng giúp duy trì kiến ​​thức của ngân hàng đầu tư về nghiên cứu tín dụng, nghiên cứu thu nhập cố định, nghiên cứu kinh tế vĩ mô và phân tích định lượng và cập nhật thông tin nhanh chóng để tư vấn chính xác, kịp thời cho khách hàng.

Ngân hàng đầu tư có những nghiệp vụ nào?

Ngoài việc duy trì và phát triển các nghiệp vụ truyền thống thì hiện nay ngân hàng đầu tư còn mở rộng sang các lĩnh vực kinh doanh khác, trong đó cốt lõi là nghiệp vụ ngân hàng đầu tư, cách thức hoạt động được đa dạng hóa để nhằm đáp ứng được các nhu cầu của khách hàng một cách tối đa. Có thể điểm qua một số các nghiệp vụ chính của một ngân hàng đầu tư như:

Nghiệp vụ ngân hàng đầu tư (Investment Banking)

Nghiệp vụ ngân hàng đầu tư là nghiệp vụ gắn liền với quá trình hình thành của ngân hàng đầu tư, đồng thời cũng là nghiệp vụ được hình thành lâu đời nhất và có thể coi là nghiệp vụ trên thị trường sơ cấp với dịch vụ tư vấn, bảo lãnh phát hành chứng khoán cho khách hàng. Trong đó, bao gồm các loại chứng khoán như chứng khoán nợ (trái phiếu) và chứng khoán vốn (cổ phiếu, trái phiếu chuyển đổi).

Ngày nay, bên cạnh việc tiếp tục duy trì và phát triển những hoạt động truyền thống vốn có đó thì nghiệp vụ ngân hàng đầu tư còn mở rộng hoạt động của mình sang các hoạt động khác đa dạng hơn như tư vấn mua bán, sáp nhập doanh nghiệp (M&A) và tư vấn tái cơ cấu doanh nghiệp.

Nghiệp vụ này dựa trên những kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực tài chính doanh nghiệp do đó có thể coi đây là nghiệp vụ mở rộng của nghiệp vụ phát hành chứng khoán huy động vốn. Các dịch vụ tư vấn của M&A bao gồm mua bán, sáp nhập, thành lập liên doanh, liên minh chiến lược, thoái vốn đầu tư,…

Nghiệp vụ ngân hàng đầu tư thường mang về cho các ngân hàng đầu tư những khoản phí tư vấn và bảo lãnh phát hành khổng lồ, từ đó tạo cơ sở để bán chéo các sản phẩm khác. Trong đó, doanh nghiệp, các nhà đầu tư có tổ chức, các quỹ đầu tư, các chính phủ và chính quyền địa phương chính là những khách hàng chủ yếu của mảng dịch vụ này.

Ngân hàng đầu tư được hưởng phí tư vấn và bảo lãnh phát hành (phí phát hành) từ các nghiệp vụ huy động vốn. Trong đó, phí phát hành đối với các khoản chứng khoán vốn thường dao động từ 3%-5% tổng số vốn huy động. Tuy nhiên, khoản phí này đã ngày càng bị thu hẹp bởi sự cạnh tranh khốc liệt ngày càng gia tăng trên thị trường. Trong năm 2008, mức phí bình quân đã giảm xuống 2,5%. Bên cạnh đó, so với chứng khoán vốn thì mức phí phát hành đối với các chứng khoán nợ thấp hơn nhiều và thường dao động trong khoảng từ 0,3%-1%. Trong năm 2008, mức phí bình quân đã giảm xuống chỉ còn 0,27%.

Còn đối với khoản phí của các giao dịch tư vấn M&A thường dao động trong khoảng từ 1%-1,5% giá trị giao dịch. Theo đó, tỷ lệ phần trăm phí sẽ càng thấp khi giá trị giao dịch càng lớn. Mức độ rủi ro của mảng dịch vụ này ở mức thấp và trong mọi trường hợp ngân hàng đầu tư đều sẽ mang về một khoản phí nhất định dù giao dịch đó có thất bại hay thành công. Do đó, có thể coi mảng tư vấn tài chính doanh nghiệp này là sân chơi của các công ty tư vấn tài chính lớn trên thế giới (các công ty kiểm toán) chứ không chỉ là của các ngân hàng đầu tư. Dịch vụ ngân hàng đầu tư này cũng được coi là giá trị cốt lõi của một ngân hàng đầu tư.

Trước kia, các dịch vụ mà nghiệp vụ ngân hàng đầu tư thường cung cấp như tư vấn, bảo lãnh phát hành chứng khoán cho khách hàng. Đến nay, đã mở rộng thêm nhiều lĩnh vực khác như tư vấn mua bán, tư vấn tái cơ cấu doanh nghiệp, sáp nhập doanh nghiệp (M&A). Từ đó, ngân hàng cũng có thêm một khoản phí để duy trì thông qua những dịch vụ này cũng như phát triển thêm nhiều các sản phẩm khác.

Nghiệp vụ đầu tư (Sales & Trading)

Nghiệp vụ đầu tư hoạt động chủ yếu tại thị trường thứ cấp gồm môi giới và đầu tư. Trong đó, nghiệp vụ môi giới được áp dụng chủ yếu cho các sản phẩm chứng khoán đã niêm yết và giao dịch trên thị trường (bao gồm cả các sản phẩm phái sinh niêm yết), trong đó vai trò của ngân hàng đầu tư là trung gian nhận lệnh từ khách hàng và thực hiện khớp lệnh. 

Còn nghiệp vụ đầu tư bao gồm hoạt động đầu tư tự doanh và hoạt động đầu tư cho khách hàng. Với chức năng tạo thanh khoản thị trường, ngân hàng đầu tư đóng vai trò như một chủ thể kinh doanh tìm kiếm các khoản chênh lệch giá từ các giao dịch với khách hàng hay từ nguồn thu từ vốn đem đi kinh doanh thu về được của ngân hàng. 

Nghiệp vụ đầu tư

Nghiệp vụ nghiên cứu (Research)

Nghiệp vụ nghiên cứu do các nhân viên nghiên cứu thực hiện để nhằm theo dõi tình hình hoạt động của các loại chứng khoán trên thị trường với đa dạng các sản phẩm nghiên cứu bao gồm các báo cáo nghiên cứu chung như kinh tế vĩ mô, nghiên cứu chiến thuật đầu tư, nghiên cứu ngành và nghiên cứu sản phẩm. Theo đó, các báo cáo này giúp cho các nhà đầu tư có thể đưa ra các quyết định mua bán một cách linh hoạt và kịp thời. Đồng thời đảm bảo các rủi ro của khách hàng được giảm xuống mức thấp nhất có thể và nâng cao, cải thiện chất lượng hoạt động của ngân hàng đầu tư. Bên cạnh đó, nghiệp vụ nghiên cứu này cũng bao gồm việc cả xây dựng, phát triển các công cụ phân tích và giúp khách hàng quản lý danh mục đầu tư.

Dù không tạo ra doanh thu trực tiếp, tuy nhiên nghiệp vụ nghiên cứu này lại có tác dụng giúp tăng cường chất lượng dịch vụ cũng như khả năng cạnh tranh của ngân hàng đầu tư. Nghiệp vụ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các hoạt động khác của ngân hàng đầu tư. Đối với các sản phẩm chứng khoán, việc nghiên cứu có tác dụng tăng cường tính thanh khoản từ đó thúc đẩy việc mua bán và tạo ra doanh thu cho khối đầu tư. Bên cạnh đó, hoạt động nghiên cứu cũng hỗ trợ cho việc phát hành chứng khoán trên thị trường sơ cấp trở nên dễ dàng hơn, nhất là các chứng khoán có tính thanh khoản cao và được thị trường quan tâm. 

Nghiệp vụ ngân hàng bán buôn (Merchant Banking)

Ngân hàng bán buôn cũng là một hoạt động đầu tư, tuy nhiên đối tượng đầu tư là các sản phẩm thay thế chứ không phải là các loại chứng khoán, có thể hiểu các sản phẩm thay thế ở đây không phải là các sản phẩm đầu tư truyền thống (cổ phiếu và trái phiếu) mà bao gồm đầu tư bất động sản, các khoản vay có sử dụng đòn bẩy tài chính, các thỏa thuận tín dụng lớn như cho vay đồng tài trợ và tài trợ dự án nhằm đa dạng hóa danh mục đầu tư, giảm thiểu các rủi ro và góp phần thúc đẩy hoạt động tài chính của ngân hàng đầu tư.

Trong đó, đầu tư vốn tư nhân chính là một mảng quan trọng thuộc dòng sản phẩm chứng khoán vốn của ngân hàng bán buôn.

Bản chất của nghiệp vụ này là việc đầu tư vào các doanh nghiệp chưa niêm yết có tiềm năng của ngân hàng thông qua tái cơ cấu tài chính và hoạt động để phát triển làm tăng giá trị. Có thể thực hiện việc đầu tư vào các doanh nghiệp vốn tư nhân từ giai đoạn khởi nghiệp của doanh nghiệp cho đến các giai đoạn trưởng thành và phát triển. Hai hình thức đầu tư mạo hiểm (venture capital) và đầu tư mua doanh nghiệp thông qua đòn bẩy tài chính (Leverage Buy-Out – LBO) chính là hai hình thức phổ biến của nghiệp vụ đầu tư vốn tư nhân. Khi việc thoái vốn thông qua niêm yết doanh nghiệp bán cho một bên thứ ba hoặc được đầu tư lên thị trường chứng khoán thì quá trình đầu tư sẽ kết thúc. 

Bên cạnh đó, có một hình thức đầu tư khác ít phổ biến hơn, ngân hàng đầu tư vào các công ty niêm yết và để nhằm hạn chế sự chú ý của các cơ quan giám sát thị trường và công chúng, ngân hàng sẽ thoái sàn (de-list) để trở thành doanh nghiệp tư nhân. Theo đó, ngân hàng sẽ thoái vốn đầu tư theo cách thông thường sau quá trình phát triển và tái cơ cấu lại, có thể hiểu là tái niêm yết lên thị trường chứng khoán. 

Ngân hàng đầu tư sẽ thông qua nghiệp vụ quản lý quỹ đầu tư vốn tư nhân (private equity fund) để vừa thực hiện hoạt động đầu tư vốn tư nhân cho bản thân ngân hàng và cả cho khách hàng. Nghiệp vụ ngân hàng bán buôn là một hoạt động tự doanh và hoạt động này mang tính rủi ro cao. Bởi đối tượng đầu tư là các sản phẩm thay thế, so với nghiệp vụ đầu tư các sản phẩm chứng khoán truyền thống khác thì thời hạn nắm giữ sản phẩm của hoạt động này thường dài hơn.

Nghiệp vụ quản lý đầu tư (Investment Management)

Nhờ mức độ rủi ro thấp và thu nhập ổn định nên có thể xem nghiệp vụ quản lý đầu tư này là một mảng kinh doanh quan trọng đối với ngân hàng. Có thể chia quản lý đầu tư của ngân hàng đầu tư thành hai nghiệp vụ là quản lý tài sản và nghiệp vụ quản lý gia sản. Quản lý gia sản hay còn gọi là dịch vụ ngân hàng tư nhân (private banking) đây là một khái niệm mới chỉ xuất hiện trong vài thập kỷ gần đây với dịch vụ tư vấn và quản lý tài sản dành riêng cho các khách hàng là những cá nhân hay gia đình giàu có. Nhờ toàn cầu hóa nên thu nhập của nhiều tầng lớp dân cư tại nhiều quốc gia đã gia tăng, điều này đã hình thành nên một tầng lớp người giàu, đây chính là cơ sở để dịch vụ quản lý gia sản phát triển.

Để tăng khả năng cạnh tranh với mục tiêu trở thành một đại siêu thị tài chính và cung cấp một danh mục dịch vụ đa dạng cho khách hàng, các ngân hàng đầu tư không thể không xây dựng cho riêng mình mảng kinh doanh quản lý đầu tư. Theo đó, mảng kinh doanh này mang lại cho các ngân hàng nguồn thu nhập ổn định mà không bị ảnh hưởng nhiều bởi những tác động từ biến động của thị trường. 

Nghiệp vụ môi giới chính (Prime Brokerage)

Trong tiếng Anh, nghiệp vụ nhà môi giới chính có rất nhiều tên gọi như “Prime Brokerage”, “Global Clearing Services”, “Capital Market Prime Services” hay “Prime Securities Services”. Từ thập kỷ 1980, nghiệp vụ này bắt đầu xuất hiện và được hình thành với mục đích chủ yếu là để hỗ trợ và cung cấp các dịch vụ phục vụ cho các quỹ đầu cơ đang ngày càng phát triển hiện nay tại các quốc gia trên thế giới. Ngày nay, cùng với sự phát triển ngày càng tinh vi của nền kinh tế thì phạm vi hoạt động của nghiệp vụ nhà môi giới chính cũng ngày càng mở rộng hơn nhằm tạo điều kiện để cho ngân hàng đầu tư có thể thích nghi một cách tốt nhất với môi trường. 

Hiện nay, dịch vụ nhà môi giới chính không chỉ bao gồm các dịch vụ môi giới đầu tư mà đã trở nên rất đa dạng, bao gồm rất nhiều dịch vụ hỗ trợ hoạt động, tư vấn cho toàn bộ vòng đời hoạt động của một quỹ đầu cơ. Các dịch vụ này bao gồm từ việc xin giấy phép, cho thuê văn phòng, thiết lập cơ sở hạ tầng, thu xếp vốn (thông qua nghiệp vụ Repo, bán và mua lại, cho vay chứng khoán, cho vay ký quỹ), kêu gọi nhà đầu tư, quản lý dòng tiền và thanh khoản, quản trị rủi ro, cung cấp cho các quỹ đầu cơ các giải pháp công nghệ thông tin, thanh toán và lưu ký chứng khoán môi giới đầu tư cũng như các công việc kế toán hay lập báo cáo tài chính. 

Phân biệt ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại

Có thể phân ngành tài chính thành hai phân khúc chính dựa trên công việc được thực hiện bởi các ngân hàng, bao gồm: ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại. Theo đóa, giữa ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại có những điểm khác biệt nhau như sau:

Tiêu chí so sánh Ngân hàng đầu tư Ngân hàng thương mại
Ý nghĩa Là ngân hàng hoạt động chủ yếu trên thị trường vốn – thị trường tài chính trung hạn và dài hạn, cung cấp các dịch vụ như dịch vụ môi giới, bảo lãnh phát hành chứng khoán,… Là ngân hàng cung cấp các dịch vụ như cho vay tiền, nhận tiền gửi, thanh toán theo lệnh đứng,…
Mục đích thành lập Cung cấp cho các công ty các dịch vụ đầu tư và tư vấn  Cung cấp cho công chúng các dịch vụ ngân hàng 
Đối tượng phục vụ Cá nhân, chính phủ, tập đoàn,… Mọi công dân của đất nước
Phương thức tạo ra thu nhập Từ phí và hoa hồng hoặc lợi nhuận từ các hoạt động giao dịch Từ lãi và phí
Ưu đãi Dịch vụ cụ thể của khách hàng Dịch vụ tiêu chuẩn hóa
Kết hợp với Tình hình hoạt động của thị trường tài chính Tăng trưởng kinh tế quốc gia và nhu cầu tín dụng

Xem thêm: Ngân hàng liên doanh là gì?

Lời kết

Trên đây là thuật ngữ đầu tư, những thông tin về ngân hàng đầu tư là gì, cấu trúc và vai trò của ngân hàng đầu tư cũng như chứng chỉ chuyên môn cần có đối với người làm ngân hàng đầu tư. Mong rằng với những chia sẻ trong bài viết này sẽ giúp bạn đọc quan tâm trang bị được thêm những kiến thức hữu ích và hiểu rõ hơn về ngân hàng đầu tư. Cảm ơn bạn đã theo dõi bài viết.

Bài viết được soạn bởi trang daututietkiem.vn

Đánh giá bài viết

Tôi là Lan Anh - Biên tập viên phân tích tài chính, với 5 năm tìm hiểu về thị trường tài chính cũng như đầu tư. Rất hy vọng những kiến thức mà tôi học hỏi và tích lũy được có thể hỗ trợ, cung cấp đến các bạn những thông tin chính xác, tư vấn hỗ trợ xử lý các dịch vụ tài chính, đầu tư hiệu quả nhất!

dang-ky-dau-tu-nhat-nam

ĐĂNG KÝ TƯ VẤN MIỄN PHÍ NGAY

    BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC