Vốn đầu tư ODA là gì? Tình hình huy động và sử dụng vốn đầu tư ODA tại Việt Nam hiện nay

0
Kiến thức tài chính

Tại các Chính phủ cũng tồn tại những khoản vay từ Chính phủ các nước khác để thực hiện các mục đích cần thiết. Các khoản vay này được gọi là vốn vay ODA. Vậy vốn vay ODA là gì? Có những đặc điểm thế nào cũng như tình hình huy động và sử dụng vốn đầu tư ODA tại Việt Nam hiện nay ra sao. Hãy cùng tìm hiểu trong bài viết dưới đây nhé.

Vốn đầu tư ODA là gì?

Vốn đầu tư ODA là gì

Vốn đầu tư ODA là gì

ODA (viết tắt của cụm từ tiếng Anh: Official Development Assistance) là một hình thức đầu tư nước ngoài dành cho Chính phủ một nước được đầu tư thông qua khoản vay dài hạn với lãi suất thấp hoặc không lãi suất, nhằm mục đích phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi xã hội.

Theo đó, có thể hiểu vốn ODA hay vốn đầu tư ODA chính là nguồn tiền mà các nước đang và kém phát triển vay từ các đối tác nước ngoài để phát triển kinh tế – xã hội. Trong đó, các đối tác này có thể là: Chính phủ, các nước trực thuộc Liên hợp quốc, Tổ chức tài chính quốc tế (Ngân hàng thế giới WB, Tổ chức phi chính phủ, Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), Quỹ tiền tệ quốc tế IMF.

Tại Việt Nam, có các công trình như: Cầu Nhật Tân, nhà ga sân bay T2 Nội Bài,… được xây dựng từ nguồn vốn vay ODA của chính phủ Nhật Bản.

Vốn đầu tư ODA có những đặc điểm nổi bật như sau:

  • ODA là nguồn vốn hỗ trợ phát triển. Theo đó, vốn đầu tư ODA được xem là một hình thức hợp tác phát triển giữa tổ chức tài chính quốc tế hay chính phủ các nước phát triển với các nước đang hoặc chậm phát triển. Bên cạnh cho vay ưu đãi, bên viện trợ vốn ODA còn thực hiện việc cung cấp hàng hóa, chuyển giao khoa học kỹ thuật và dịch vụ khác… Còn trách nhiệm của bên nhận vốn ODA là sử dụng nguồn vốn này đúng mục đích để xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế – xã hội.
  • Vốn đầu tư ODA là nguồn vốn mang tính ưu đãi, vì thời gian trả nợ dài, có thể lên đến hàng chục năm đi kèm với mức lãi suất rất thấp.
  • Nguồn vốn này mang tính ràng buộc, theo đó khi sử dụng vốn ODA để chi tiêu thì các nước nhận ODA sẽ phải chịu những điều khoản nhất định, thông thường những điều khoản này sẽ gắn với lợi ích của nước cho ODA;

Xem thêm: Vốn đầu tư nước ngoài là gì? Các hình thức đầu tư nước ngoài hiện nay 

Ưu điểm và nhược điểm của nguồn vốn đầu tư ODA

Vốn đầu tư ODA có những ưu điểm riêng, tuy nhiên đồng thời nó cũng có một số nhược điểm nhất định, cụ thể:

Ưu điểm:

  • So với các khoản vay khác thì lãi suất của ODA thấp hơn rất nhiều, thông thường sẽ dao động ở mức dưới 2% hoặc 3%. Vì thế, đối với các nước chậm và đang phát triển thì đây là một nguồn vốn quan trọng để phát triển kinh tế – xã hội.
  • Nếu là nguồn viện trợ ODA không hoàn lại thì nước nhận ODA có thể không cần hoàn lại.
  • Vốn đầu tư ODA là khoản vay có thời gian cho vay cũng như thời gian ân hạn vay dài, thông thường thời gian hoàn trả là từ 25 – 40 năm và thời gian ân hạn vay là từ 8 – 10 năm.
  • Trong nguồn vốn ODA, hầu hết sẽ luôn có một phần viện trợ không hoàn lại, theo đó phần viện trợ không hoàn lại này thấp nhất là 25% trong tổng số vốn ODA.
  • Vốn đầu tư ODA là nguồn vốn rất quan trọng để giúp các nước chậm và đang phát triển có thể phát triển kinh tế cũng như ổn định đời sống xã hội.
  • Bên cạnh việc hỗ trợ về vốn, bên viện trợ ODA còn có các hoạt động hỗ trợ giúp bên nhận ODA nâng cao trình độ nhân lực lao động cũng như trình độ khoa học – công nghệ. Qua đó giúp thúc đẩy sự phát triển của kinh tế – xã hội và cải thiện đời sống cho người dân.

Nhược điểm:

  • Khi cho các nước vay vốn ODA, các bên viện trợ ODA đều có mục đích của họ như: mở rộng mối quan hệ hợp tác, mở rộng thị trường, theo đuổi mục tiêu chính trị, an ninh quốc phòng… Ví dụ, nước nhận ODA sẽ phải dỡ bỏ dần hàng rào thuế quan đối với những mặt hàng của nước viện trợ ODA hoặc cũng có thể cho phép họ đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế, có khả năng sinh lời cao.
  • Đi kèm với nguồn vốn vay ODA, thường bên viện trợ vốn vay ODA sẽ yêu cầu bên nhận viện trợ thuê nhân lực, dịch vụ hay mua thiết bị,… của khoản vay với chi phí tương đối cao.
  • Các nước cho vay ODA cũng yêu cầu nước nhận ODA thực hiện các điều khoản thương mại mậu dịch, chẳng hạn như nhập khẩu tối đa sản phẩm nào đó của họ.
  • Nước cho vay ODA sẽ tham gia gián tiếp vào các dự án sử dụng nguồn vốn vay đó của nước đi vay dưới hình thức hỗ trợ chuyên gia hoặc nhà thầu. Như vậy, nước cho vay ODA vừa được lợi nhiều mặt như: được biết đến là nước viện trợ ODA, khi hoạt động tại thị trường nước đi vay các doanh nghiệp của nước cho vay cũng được lợi, được nhiều quyền lợi kinh tế, chính trị,…
  • Yếu tố tỷ giá hối đoái có thể tác động khiến cho giá trị vốn ODA phải hoàn lại tăng lên. Đây chính là một bất lợi đối với nước nhận vốn đầu tư ODA.
  • Trong quá trình sử dụng vốn vay ODA, nếu sử dụng vốn ODA không hiệu quả như để xảy ra tình trạng tham nhũng, lãng phí, trình độ quản lý thấp, thiếu kinh nghiệm điều hành dự án… sẽ vô cùng bất lợi cho nước đi vay ODA.

Phân loại vốn ODA

Phân loại vốn ODA

Phân loại vốn ODA

Căn cứ theo hình thức vốn hợp tác phát triển chính thức gồm có: vốn hợp tác phát triển chính thức không ràng buộc (chỉ ở bất kỳ nước nào); vốn hợp tác phát triển chính thức ràng buộc (chi tại nước viện trợ); vốn hợp tác phát triển chính thức ràng buộc một phần (một phần chi ở nước viện trợ, phần còn lại chỉ ở bất kỳ nơi nào).

Còn phân loại vốn hợp tác phát triển chính thức theo góc độ “vay – trả” gồm có: viện trợ không hoàn lại; viện trợ có hoàn lại và viện trợ hỗn hợp.

Viện trợ không hoàn lại

Đây là hình thức mà nước vay không phải hoàn trả lại. Nguồn vốn này sẽ được sử dụng vào mục đích thực hiện các dự án cho nước vay theo thỏa thuận của 2 nước với điều kiện là bên cho vay sẽ đảm nhận các nhà thầu dự án. Tuy nhiên, vốn viện trợ không hoàn lại có thể được xem như là một nguồn thu của ngân sách nhà nước. Được cấp phát lại theo nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Viện trợ có hoàn lại

Viện trợ có hoàn lại là vay vốn ODA với một thời gian trả nợ thích hợp và một lãi suất ưu đãi. Hiện nay, trong tổng số vốn ODA trên thế giới, tín dụng ưu đãi chiếm một tỉ trọng lớn. Thông thường, nó sẽ được sử dụng cho các dự án về cơ sở hạ tầng thuộc các lĩnh vực như nông nghiệp, năng lượng, giao thông vận tải, thủy lợi,… Làm nền tảng vững chắc cho sự ổn định và tăng trưởng kinh tế. Theo đó, các điều kiện ưu đãi của loại vốn đầu tư ODA này bao gồm:

  • Lãi suất thấp
  • Thời gian trả nợ dài
  • Có khoảng thời gian không trả lãi hoặc trả nợ.

Vốn ODA hỗn hợp

Vốn ODA hỗn hợp là nguồn vốn kết hợp của cả hai dạng trên, bao gồm một phần không hoàn lại và phần tín dụng ưu đãi có hoàn trả. Trong tổng giá trị khoản vay ODA, các yếu tố “không hoàn lại” thường sẽ là không dưới 25%.

Phương thức cung cấp vốn ODA

Phương thức cung cấp vốn ODA

Căn cứ theo quy định tại Khoản 1, Điều 4, Nghị định 16/2016/NĐ-CP về quản lý và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vay vốn ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài được sửa đổi và bổ sung bởi Nghị định 132/2018/NĐ-CP, các phương thức cung cấp vốn ODA như sau:

“1. Các phương thức cung cấp vốn ODA, vốn vay ưu đãi gồm:

  1. a) Chương trình;
  2. b) Dự án;
  3. c) Hỗ trợ ngân sách;
  4. d) Phi dự án.”

Tình hình huy động và sử dụng vốn đầu tư ODA tại Việt Nam

Giải ngân vốn ODA chỉ đạt 9,12% trong nửa đầu năm 2022

Tình hình giải ngân vốn đầu tư công nguồn vay nước ngoài trong 6 tháng đầu năm 2022 chỉ đạt 9,12% kế hoạch vốn được giao, trong đó, các Bộ ngành đạt 16,12% và các địa phương đạt 5,38%.

Năm 2022, kế hoạch vốn đầu tư công nguồn nước ngoài (vốn ODA) do Chính phủ giao ở mức 34.800 tỷ đồng. Đến nay, các bộ, ngành, địa phương đã thực hiện phân bổ kế hoạch vốn chi tiết và nhập dự toán 33.289 tỷ đồng trên hệ thống Tabmis của kho bạc Nhà nước, đạt 95,66% kế hoạch vốn được giao.

Theo thứ trưởng Bộ Tài chính Tạ Anh Tuấn cho biết, việc thực hiện giải ngân vốn đầu tư công nói chung và nguồn vốn nước ngoài chính là nhiệm vụ quan trọng, được Chính phủ, các bộ, ngành địa phương quan tâm. Đặc biệt là trong bối cảnh, năm 2022 Việt Nam đang thực hiện chương trình phục hồi kinh tế thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội sau đại dịch.

“Nguyên nhân chủ quan của việc chậm giải ngân ODA rất quan trọng, đặc biệt là khâu tổ chức thực hiện. Cùng một điều kiện, cơ chế chính sách như nhau nhưng có địa phương, bộ ngành lại có kết quả giải ngân cao, nhưng lại có bộ, ngành địa phương giải ngân thấp”, Thứ trưởng Tạ Anh Tuấn lưu ý.

Theo Bộ Tài chính, nguyên nhân chủ yếu khiến cho tỷ lệ giải ngân đầu tư công nguồn vốn nước ngoài thấp xuất phát từ việc không có khối lượng hoàn thành để giải ngân. Trong đó, các nguyên nhân làm cho dự án chưa có khối lượng hoàn thành như: Việc triển khai các công tác sẵn sàng cho đầu tư chậm (như chậm thiết kế cơ sở; chậm giải phóng mặt bằng, tái định cư; chậm đấu thầu, vướng mắc trong đấu thầu hoặc vướng trong thực hiện hợp đồng với nhà thầu); Dự án chậm tiến hành công tác nghiệm thu, thanh toán hoặc đang kiện toàn ban quản lý dự án; Dự án thực hiện các thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư, điều chỉnh dự án, điều chỉnh hiệp định vay; Ảnh hưởng của thời tiết, bão lũ, sạt lở, dự án không triển khai được….

“Một số nguyên nhân do đặc thù của dự án sử dụng vốn ODA, vay ưu đãi như: Vướng mắc liên quan đến nhà tài trợ WB áp dụng phương thức giải ngân theo kết quả; Vướng mắc do chậm nhận được ý kiến không phản đối của nhà tài trợ hoặc ý kiến chấp thuận của nhà tài trợ đối với hồ sơ mời thầu. Các vướng mắc này thuộc trách nhiệm xử lý của ban quản lý dự án, cơ quan chủ quản dự án và các nhà tài trợ”, đại diện Bộ Tài chính cho biết.

Trong giải ngân vốn ODA, vay ưu đãi Bộ Tài chính sẽ tiếp tục phối hợp tháo gỡ khó khăn và quyết liệt thực hiện đồng bộ các giải pháp đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công; ứng dụng công nghệ thông tin hơn nữa cũng như trao đổi với nhà tài trợ phối hợp xử lý nhanh các hồ sơ giải ngân…

Bộ Tài chính đề nghị các chủ dự án, Ban quản lý dự án có trách nhiệm hoàn tất các thủ tục về di dân tái định cư, về đầu tư, xây dựng, giải phóng mặt bằng một cách khẩn trương để có thể triển khai thực hiện dự án. Chủ động điều phối, giám sát chặt chẽ công tác thực hiện dự án của các bên liên quan (tư vấn, nhà thầu) theo các nguồn vốn (vay, viện trợ đồng tài trợ, đối ứng), đảm bảo việc thực hiện thông suốt cũng như kịp thời phát hiện các vướng mắc để kịp thời xử lý hoặc báo cáo lên cơ quan chủ quản xử lý theo thẩm quyền.

Đồng thời, ngay sau khi có khối lượng hoàn thành, các chủ dự án, Ban quản lý dự án cũng cần phải hoàn thiện hồ sơ thanh toán gửi Kho bạc Nhà nước để kiểm soát chi đảm bảo chi trong dự toán được phân bổ, chi đúng chế độ quy định; trong việc giải ngân đối với các khối lượng đã được kiểm soát chi cần phối hợp với Bộ Tài chính (Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại), không để tồn đọng, đặc biệt là các khoản hoàn chứng từ tài khoản đặc biệt.

Theo Thứ trưởng Bộ Tài chính Tạ Anh Tuấn, trong cùng một điều kiện, cơ chế chính sách như nhau, có có đơn vị chưa giải ngân được đồng vốn nào nhưng có địa phương, bộ, ngành lại có kết quả giải ngân cao.

Dự án metro số 2 (tuyến Bến Thành - Tham Lương) đang giải phóng mặt bằng, vốn ODA giải ngân bằng 0 (Ảnh minh hoạ)

Dự án metro số 2 (tuyến Bến Thành – Tham Lương) đang giải phóng mặt bằng, vốn ODA giải ngân bằng 0 (Ảnh minh hoạ)

Là một trong những đầu tàu kinh tế cả nước, năm 2022, tổng vốn ODA của các dự án của TP Hồ Chí Minh có trên 10.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, đã hết 6 tháng đầu năm mà con số giải ngân vốn của địa phương này vẫn bằng 0. Theo đó, có thể kể đến một số dự án chậm giải ngân tiêu biểu như: Dự án cải thiện môi trường nước lưu vực kênh Tàu Hủ – Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ (giai đoạn 2), tiến độ đạt khoảng 86,7%, vốn ODA và vốn đối ứng đều giải ngân 0 đồng; Dự án metro số 2 (tuyến Bến Thành – Tham Lương), tiến độ đạt khoảng 3,9%, vốn ODA giải ngân 0 đồng; Dự án vệ sinh môi trường thành phố – giai đoạn 2, tiến độ đạt khoảng 59%, vốn ODA giải ngân 0 đồng.

Theo lý giải của địa phương này, nguyên nhân khiến cho việc giải ngân bị chậm là do đang thực hiện thủ tục về giao kế hoạch vốn hằng năm. Một số dự án đang điều chỉnh, đàm phán ký kết các phụ lục hợp đồng với nhà thầu.

Bến Tre cũng là một trong những địa phương xếp “đội sổ” trong giải ngân ODA, theo đại diện tỉnh Bến Tre cho biết, giải ngân đang chậm nhất là Dự án Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bến Tre vốn đầu tư 210 tỷ đồng. Trong đó, do nhà tư vấn mới, lần đầu làm thủ tục tại Việt Nam nên thủ tục phức tạp chính là khó khăn lớn nhất của dự án. Theo đó, tỉnh Bến Tre đã kiến nghị cơ quan chức năng cho phép thanh toán theo cơ chế trong nước để kịp thời tháo gỡ khó khăn cũng như đẩy nhanh giải ngân.

“Dự án vay vốn ODA nên phải thực hiện thủ tục, cam kết như hợp đồng vay vốn và thông lệ quốc tế, không thể thanh toán theo cơ chế trong nước. Bộ Tài chính đề nghị tỉnh Bến Tre cố gắng thực hiện”, Thứ trưởng Tạ Anh Tuấn nói.

Không chỉ có địa phương, nhiều bộ, ngành chậm giải ngân vốn ODA. Mà tình hình giải ngân vốn của cơ quan tham mưu, xây dựng Luật Đầu tư công sửa đổi sóng nửa đầu năm 2022, giải ngân vốn của Bộ KH&ĐT cũng rơi vào tình trạng “rùa bò”. Ông Phạm Hoàng Mai – Vụ trưởng Vụ Kinh tế đối ngoại (Bộ KH&ĐT) lý giải về con số giải ngân vốn ODA vẫn “giậm chân tại chỗ” cho biết, dự án xây dựng quy hoạch Đồng bằng sông Cửu Long (vay vốn ODA của Bộ KH&ĐT) không giải ngân được.

“Theo Nghị định 114/2021/NĐ-CP về quản lý, sử dụng vốn ODA, nguồn vốn này không được sử dụng cho chi thường xuyên. Đây cũng là điểm nghẽn của rất nhiều dự án của địa phương, bộ ngành hiện nay”, đại diện Bộ KH&ĐT chỉ rõ.

Bên cạnh đó, ông Trương Hùng Long, Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính) cũng cho biết: “Nguyên nhân dẫn tới chậm giải ngân vốn vay nước ngoài chủ yếu xuất phát từ thực tế không có khối lượng công việc hoàn thành để giải ngân. Ngoài ra, còn có nhiều vướng mắc liên quan nhà tài trợ Ngân hàng Thế giới áp dụng phương thức giải ngân theo kết quả; vướng mắc do chậm nhận được ý kiến không phản đối của nhà tài trợ hoặc ý kiến chấp thuận của nhà tài trợ đối với hồ sơ mời thầu…”

Xem thêm: Thu hút vốn đầu tư nước ngoài là gì? Chính sách gọi vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam 

Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA ở Việt Nam

Một là, nhận thức về bản chất của nguồn vốn ODA một cách đúng đắn, gắn kết chặt chẽ giữa 2 mặt chính trị và kinh tế với nhau để trên cơ sở đó khai thác những tác động tích cực về chính trị và kinh tế của vốn ODA mang lại lợi ích cho sự nghiệp phát triển của đất nước. Việt Nam là nước có mức thu nhập trung bình nên cần xác định rõ định hướng tổng thể về việc thu hút cũng như sử dụng nguồn vốn ODA để làm cơ sở cụ thể hoá các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc huy động nguồn lực này; Để tránh tình trạng phân bổ dàn trải, tạo tâm lý ỷ lại, không nỗ lực tìm kiếm các nguồn vốn khác thì cần xác định được những lĩnh vực ưu tiên cần sử dụng vốn ODA.

Hai là, tăng cường vốn đối ứng, nhất là vốn đối ứng cho công tác giải phóng mặt bằng và tái định cư đối với các dự án đầu tư xây dựng. Theo đó, các bước để thực hiện được giải pháp này như sau:

  • Xác định thứ tự ưu tiên đầu tư vào các dự án ODA gắn với đảm bảo nguồn vốn đối ứng cho những dự án này;
  • Xây dựng một cách có hệ thống và bài bản quy trình và cơ chế tổng hợp, phân bổ cũng như giám sát vốn đối ứng, đặc biệt là vốn từ ngân sách nhà nước cấp cho các cơ quan trung ương và hỗ trợ các địa phương.
  • Đối với vốn đối ứng, xây dựng kế hoạch trung hạn trên cơ sở kế hoạch đầu tư trung hạn đối với nguồn vốn ODA.
  • Khi thẩm định và phê duyệt văn kiện chương trình, dự án cần thực hiện nghiêm việc thẩm định vốn theo tinh thần Chỉ thị số 1792/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và đảm bảo rằng quy mô dự án phải phù hợp với khả năng bố trí vốn đối ứng của chủ đầu tư và cơ quan chủ quản.
  • Có giải pháp huy động và sử dụng vốn ODA làm vốn đối ứng một cách hiệu quả, cơ cấu lại danh mục dự án để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA và vốn đối ứng.

Ba là, nâng cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm và vai trò làm chủ của nhiều cơ quan chủ quản, chủ dự án đồng thời đề cao tính minh bạch trong việc quản lý, sử dụng vốn ODA, cụ thể:

  • Phát huy vai trò quản lý, làm chủ các mục tiêu phát triển để tránh rơi vào tình trạng phụ thuộc vào viện trợ, phát huy được tinh thần năng động, sáng tạo và tự chủ để có thể sử dụng nguồn vốn ODA một cách thông minh và hiệu quả.
  • Đề cao trách nhiệm cũng như nâng cao vai trò chủ động của các cơ quản lý nhà nước về viện trợ phát triển, các đơn vị thụ hưởng và các cơ quản chủ quản trong việc thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA của các nhà tài trợ là một trong những yêu cầu đặt ra để nhằm mục đích bảo đảm sử dụng vốn có hiệu quả viện trợ trong bối cảnh hợp tác mới.
  • Khuyến khích và vận động để có sự tham gia đầy đủ, tích cực của các nhà chuyên môn, các tổ chức xã hội, những người thụ hưởng hoặc các bên liên quan bị ảnh hưởng từ dự án trong quá trình lựa chọn, thực hiện và xây dựng dự án để nhằm đề cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA của các nhà tài trợ,…

Bốn là, hợp tác công – tư (PPP), đây là hướng đi mới để thu hút đầu tư và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA. Nhà nước nên khuyến khích tư nhân cùng tham gia đầu tư vào các dự án công trình hay dịch vụ công cộng có sử dụng vốn ODA của Nhà nước.

Với mô hình PPP, Nhà nước sẽ đặt ra các tiêu chuẩn về cung cấp dịch vụ và tư nhân được khuyến khích cung cấp bằng cơ chế thanh toán dựa trên chất lượng của dịch vụ. Việc các doanh nghiệp tư nhân, các thành phần kinh tế tham gia vào các dự án sử dụng nguồn vốn ODA sẽ phát huy được tối đa hiệu quả sử dụng nguồn vốn này. 

Năm là, xây dựng hành lang và khuôn khổ pháp lý một cách đồng bộ và minh bạch về quản lý nguồn vốn ODA. Trước mắt, để đáp ứng nhu cầu và yêu cầu đặt ra trong bối cảnh Việt Nam đã trở thành nước có mức thu nhập trung bình, đồng thời nhằm quản lý và sử dụng vốn ODA một cách có hiệu quả, đảm bảo hài hòa hóa các quy trình và thủ tục quản lý với nhà tài trợ, duy trì sự quản lý và điều phối thống nhất các nguồn tài trợ phát triển để tối ưu hoá sử dụng nguồn vốn này, cần thay thế Nghị định số 132/2018/NĐ-CP (sửa đổi Nghị định 16/2016/NĐ-CP) bằng Nghị định mới phù hợp với tình hình hiện nay…

Sáu là, tăng cường giám sát và đánh giá nguồn vốn ODA để đảm bảo mục tiêu an toàn nợ. Mặc dù, để nhằm cải thiện hệ thống theo dõi và đánh giá Chính phủ đã có những nỗ lực quan trọng, tuy nhiên chưa quan tâm đúng mức công tác đánh giá, theo dõi chương trình, dự án ở các cấp, chưa thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo, thanh quyết toán tài chính và thiếu các chế tài cần thiết.

Kết luận

Trên đây là một số thông tin liên quan đến vốn đầu tư ODA cũng như tình hình huy động và sử dụng vốn đầu tư ODA tại nước ta hiện nay mà daututietkiem.vn tổng hợp được. Hy vọng qua bài viết này, bạn đọc quan tâm hiểu rõ về vốn đầu tư ODA, nắm rõ các đặc điểm cũng như hạn chế của nguồn vốn này. Từ đó thấy được tầm quan trọng và tác động của vốn ODA đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của một quốc gia. Cảm ơn bạn đã theo dõi bài viết.

Đánh giá bài viết

Tôi là Lan Anh - Biên tập viên phân tích tài chính, với 5 năm tìm hiểu về thị trường tài chính cũng như đầu tư. Rất hy vọng những kiến thức mà tôi học hỏi và tích lũy được có thể hỗ trợ, cung cấp đến các bạn những thông tin chính xác, tư vấn hỗ trợ xử lý các dịch vụ tài chính, đầu tư hiệu quả nhất!

dang-ky-dau-tu-nhat-nam

ĐĂNG KÝ TƯ VẤN MIỄN PHÍ NGAY

    BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC