Kinh tế vĩ mô là gì? Tổng quan về kinh tế vĩ mô tại Việt Nam

0
Kiến thức tài chính

Kinh tế vĩ mô là kinh tế tầm lớn, chủ yếu nghiên cứu về các nguyên nhân gây ra các biến động ngắn hạn và hậu quả của biến động đối với thu nhập quốc gia cũng như các yếu tố quyết định để nền kinh tế của một quốc gia có thể tăng trưởng bền vững. Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn hiểu hơn về kinh tế vĩ mô là gì và chiến lược kinh tế vĩ mô tại Việt Nam. Mời bạn cùng theo dõi.

Kinh tế vĩ mô là gì? 

Kinh tế vĩ mô (tiếng Anh là Macroeconomics) là một phân ngành thuộc chuyên ngành kinh tế học, nghiên cứu chủ yếu về đặc điểm, cấu trúc và hành vi của cả một nền kinh tế nói chung, do đó kinh tế vĩ mô còn được gọi là kinh tế tầm lớn. 

Kinh tế vĩ mô còn được gọi là kinh tế tầm lớn

Kinh tế vĩ mô còn được gọi là kinh tế tầm lớn

Kinh tế vĩ mô thường tập trung nghiên cứu và phân tích cơ chế hoạt động của nền kinh tế từ đó xác định được các yếu tố chiến lược quy định thu nhập và sản lượng quốc dân, mức sử dụng lao động, giá cả và sự biến động của các yếu tố này.

Có thể hiểu kinh tế vi mô một cách đơn giản nhất, ngành học này là một lĩnh vực tổng quát nghiên cứu và được chia thành 2 khu vực nghiên cứu điển hình như sau:

  • Nghiên cứu nguyên nhân gây ra những biến động ngắn hạn và hậu quả của biến động này đối với thu nhập quốc gia (còn gọi là chu kỳ kinh tế).
  • Nghiên cứu những yếu tố quyết định để nền kinh tế của một quốc gia có thể tăng trưởng bền vững.

Các yếu tố của kinh tế vĩ mô

Trong một nền kinh tế, kinh tế vĩ mô nghiên cứu mối quan hệ của các yếu tố cơ bản, bao gồm:

  • Thu nhập quốc gia
  • Sản lượng
  • Tiêu dùng
  • Thất nghiệp
  • Lạm phát
  • Tiết kiệm
  • Đầu tư
  • Buôn bán đa quốc gia
  • Tài chính đa quốc gia. 

Theo đó, mối quan hệ giữa các yếu tố này trong nền kinh tế sẽ được các nhà nghiên cứu kinh tế vĩ mô giải thích bằng cách phát triển các mô hình.

Công cụ quản lý kinh tế vĩ mô

Dưới đây là các công cụ quản lý mà chính phủ, nhà nước của một quốc gia sử dụng để quản lý hay điều tiết kinh tế vĩ mô:

– Các chính sách kinh tế – xã hội: Chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ, chính sách đầu tư, chính sách lao động, chính sách điều tiết thu nhập, chính sách ngoại hối, chính sách xuất, nhập khẩu, chính sách trợ giá và trợ cấp của Chính phủ,… là một số chính sách quan trọng mà chính phủ, nhà nước của một quốc gia sử dụng.

– Bên cạnh đó còn sử dụng các chương trình, kế hoạch mang tính định hướng về phát triển kinh tế – xã hội ngắn hạn, trung hạn và dài hạn và hệ thống pháp luật.

Trong đó, các chính sách kinh tế – xã hội có vai trò trọng tâm đối với kinh tế vĩ mô. Chúng được xây dựng và vận hành theo nguyên tắc tôn trọng các quy luật kinh tế, xã hội khách quan, đặc biệt là các quy luật thị trường, đây chính là đặc trưng cơ bản của các chính sách này. Tác dụng của chúng là khuyến khích, hỗ trợ và phát huy cao độ quyền tự chủ trong quá trình kinh doanh của các chủ thể mà không làm mất đi quyền tự chủ vốn có của các chủ thể đó. Từ đó đem lại cho các hoạt động kinh tế hiệu quả cao nhất.

Các công cụ quản lý vĩ mô này sẽ được Nhà nước sử dụng linh hoạt theo từng thời kỳ và từng mức độ trong quá trình điều tiết kinh tế vĩ mô của một nền kinh tế để nhằm mang lại hiệu quả điều chỉnh cao nhất.

Theo đó, giữa các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô này còn có mối quan hệ tác động qua lại với nhau, chúng chi phối và ảnh hưởng lẫn nhau, điển hình là mối quan hệ giữa công cụ pháp luật và công cụ chính sách kinh tế vĩ mô. Cụ thể, thông qua thể chế hóa bằng pháp luật, nhờ tính bắt buộc thi hành của pháp luật khả năng thực thi của các chính sách kinh tế vĩ mô sẽ tốt hơn. Ví dụ: 

  • Trong các văn bản pháp luật về tài chính có quy định về chính sách tài khoá
  • Trong các văn bản pháp luật về tài chính ngân hàng có quy định về chính sách tiền tệ quốc gia
  • Và trong các văn bản pháp luật về lao động, pháp luật đầu tư,… có những quy định đối với chính sách tiền lương và chính sách đầu tư

Qua đó có thể nói, đối với các quốc gia chấp nhận phát triển nền kinh tế theo hướng thị trường có sự kiểm soát của Nhà nước thì công cụ quản lý kinh tế vĩ mô chính là sự lựa chọn hoàn hảo nhất.

Các chính sách của chính phủ là một trong những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô

Các chính sách của chính phủ là một trong những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô

Một số công thức kinh tế vĩ mô quan trọng

Có rất nhiều công thức được xem xét và đánh giá để nghiên cứu kinh tế vĩ mô của một đất nước, qua sự tính toán có căn cứ sẽ giúp các nhà nghiên cứu kinh tế có thể nắm được các thông tin liên quan dễ dàng. Theo đó, bạn cần nắm rõ một số công thức quan trọng trong kinh tế vĩ mô dưới đây:

Công thức tính tổng sản phẩm nội địa (GDP)

  • Tính theo phương pháp chi tiêu: GDP = C + G + I + NX
  • Tính theo phương pháp chi phí (theo thu nhập): GDP = W + I + Pr + R + Ti + De
  • Tính theo phương pháp sản xuất: GDP = Giá trị tăng thêm + Thuế nhập khẩu hoặc GDP = Giá trị sản xuất – chi phí trung gian + thuế nhập khẩu

Ví dụ: Xem xét một nền kinh tế bao gồm: Các hộ gia đình (A), chủ nhà máy xay bột (B) và chủ cửa hàng bánh cuốn (C). A mua bánh cuốn từ C với giá là 200 và bột mì từ B với giá là 20 (như là những khoản chi tiêu vào sản phẩm cuối cùng). C mua bột mì từ B với giá 80 để làm ra bánh cuốn. Giả sử B chỉ sử dụng bột mì và không sử dụng các sản phẩm trung gian nào khác. Cả hai C và B đều nhận dịch vụ lao động và vốn từ A; C đã thanh toán cho A các khoản bao gồm: 60 cho chi phí thuê lao động và 60 cho dịch vụ vốn. Tương tự C, B đã thanh toán cho A các khoản bao gồm: 80 cho chi phí thuê lao động và 20 cho thuê vốn. Từ các thông tin trên đây, chúng ta có thể tính được:

– Tính GDP theo phương pháp chi tiêu:

GDP = C + G + I + NX (do chỉ có chi tiêu hộ gia đình nên I= 0, G= 0, NX= 0) => GDP = 20 + 200 = 220

– Tính GDP theo phương pháp thu nhập:

Theo đó, bạn có thể tìm hiểu ai sẽ được trả tiền để sản xuất ra sản phẩm thay vì xem xét ai mua sản phẩm. Lúc này ta có bảng sau: 

Tên Chi phí thuê lao động Dịch vụ vốn Hộ gia đình (A) nhận
C 60 60 120
B 80 20 100
Tổng số tiền A được nhận để sản xuất 220

Như vậy: GDP = (60 + 80) + (20 + 60) = 220

– GDP tính theo phương pháp sản xuất:

Trên thị trường, không phải tất cả các giao dịch đều sẽ được tính đủ giá trị vào GDP. Bởi nếu làm vậy thì sẽ bị tính trùng nhiều lần cùng một sản phẩm. Do đó, bạn phải phân biệt hàng hóa trung gian và hàng hóa được mua để sử dụng làm đầu vào nhằm sản xuất ra sản phẩm khác và trong quá trình sản xuất đó chỉ sử dụng một lần để có một chỉ số đo GDP chính xác. Ta có:

– C mua bột mì từ B với giá 80 và bán cho A với giá 200, lúc này C thu được 120

– A được B thanh toán 80 cho chi phí thuê lao động và 20 cho thuê vốn, như vậy A thu được 100.

Từ đó ta có: GDP = giá trị tăng thêm + thuế thu nhập = (20 + 80) + (200 – 80) = 220 

Như vậy, kết quả của cả 3 cách tính trên đều cho ra chỉ số GDP là 220.

Công thức tính tổng sản phẩm quốc gia (GNP)

GNP = C + I + G + (X – M) + NR 

hay 

GNP = GDP + NIA

Trong đó: 

  • NIA: Là thu nhập ròng từ nước ngoài. NIA = Thu nhập từ nước ngoài chuyển vào – thu nhập từ trong nước chuyển ra.
  • NR: Thu nhập ròng từ các hàng hóa và dịch vụ đầu tư ở nước ngoài (thu nhập ròng)

Ví dụ: Nền kinh tế sản xuất của nước Z là các loại sản phẩm như lúa gạo, may mặc, theo đó năm X GDP của nước này đạt là 21.000 USD và thu nhập ròng từ nước ngoài về là 4.000 USD. Như vậy ta có thể tính được GNP của nền kinh tế này như sau: GNP = GDP + NIA = 21.000 + 4.000 = 25.000

Công thức xác định sản lượng trong nền kinh tế mở

Ta có công thức:

AD = C + I + G + X – M

Trong đó:

  • C: Là chi tiêu của hộ gia đình
  • I: Chi tiêu của doanh nghiệp cho đầu tư
  • G: Chi ngân sách mua hàng hóa và dịch vụ
  • X: Chi tiêu nước ngoài mua hàng hóa và dịch vụ trong nước (Xuất khẩu)
  • M: Chi tiêu nước ngoài mua hàng hóa và dịch vụ của nước ngoài (Nhập khẩu)

Công thức tính cán cân thương mại

CCTM = XK – NK = X – M

Trong đó: X – M là ba trạng thái của cán cân ngoại thương (xuất khẩu ròng), cụ thể:

  • X – M > 0: Thặng dư (Xuất siêu)
  • X – M < 0: Thâm hụt (Nhập siêu)
  • X – M = 0: Cân bằng

Công thức xác định sản lượng cân bằng trong nền kinh tế mở

Theo quan hệ tổng cung/tổng cầu, ta có công thức sau:

AS = AD ⇔ Y = C + I + G + X – M

Công thức xác định sản lượng cân bằng khi ngân sách cân bằng: 

AS = AD ⇔ Y = C + I + T + X – M (Với T=G)

Công thức tính thu nhập khả dụng

Để tính thu nhập khả dụng, ta có công thức như sau:

Yd = Y – (Tx – Tr) = Y – T

Trong đó:

  • Yd: Là thu nhập khả dụng
  • Y: Tổng thu nhập (GNP hay GNI)
  • Tx: Tổng số thuế (Tx = Td + Ti)
  • Tr: Chi chuyển nhượng (Trợ cấp)
  • T: Thuế ròng

Kinh tế vĩ mô có mục tiêu như thế nào?

Mục tiêu quan trọng nhất của kinh tế vĩ mô chính là ổn định nền kinh tế. Theo đó, Ổn định, tăng trưởng và công bằng xã hội là ba dấu hiệu chủ yếu để đánh giá thành tựu kinh tế vĩ mô của một quốc gia. Trong đó đối với một nền kinh tế, một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu chính là ổn định kinh tế. 

Ổn định kinh tế là một mục tiêu quan trọng hàng đầu của một nền kinh tế

Ổn định kinh tế là một mục tiêu quan trọng hàng đầu của một nền kinh tế

Bên cạnh đó, kiểm soát được giá cả, tỷ giá, lãi suất,… chính là ổn định kinh tế vĩ mô. Bằng việc duy trì và cải thiện các cân đối lớn phù hợp với cơ chế thị trường của nền kinh tế, được thể hiện rõ qua các yếu tố sau đây:

Sản lượng cao và tăng trưởng nhanh

Các nhà kinh tế sẽ đánh giá hoạt động kinh tế vĩ mô bằng cách nhìn vào các yếu tố trọng yếu trong nền kinh tế, trong đó GDP – tổng sản phẩm quốc nội là quan trọng nhất. Theo đó, GDP chính là thước đo theo giá trị thị trường trong một năm của tất cả các hàng hoá và dịch vụ cuối cùng được sản xuất tại một nước. Trong GDP, chu kỳ kinh doanh là tên gọi của những biến động ngắn hạn và một trong những mục tiêu chính của kinh tế vĩ mô chính là hiểu biết về chu kỳ kinh doanh. 

Việc làm nhiều và thất nghiệp thấp

Tỷ lệ thất nghiệp đo lường số người không có việc làm và đang tích cực tìm việc tính theo tỷ lệ phần trăm so với lực lượng lao động. Theo đó, những dao động theo chu kỳ kinh doanh có thể sẽ gây ra những biến động ngắn hạn của tỷ lệ thất nghiệp. Cụ thể, tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng trong những thời kỳ sản lượng giảm và ngược lại những thời kỳ sản lượng tăng thường đi kèm với giảm thất nghiệp.

Yếu tố về lạm phát

Mức giá chung của hàng hóa và dịch vụ tăng một cách liên tục theo thời gian và một loại tiền tệ nào đó bị mất giá trị được gọi là lạm phát. Theo đó, số lượng hàng hóa và dịch vụ mà một đơn vị tiền tệ mua được sẽ ít hơn so với trước đây khi mức giá chung tăng cao, do đó sự suy giảm sức mua trên một đơn vị tiền tệ sẽ được phản ánh qua lạm phát. Khi nghiên cứu về kinh tế vĩ mô, lạm phát là yếu tố then chốt được các nhà kinh tế quan tâm. Lạm phát sẽ được các nhà kinh tế đo bằng tỷ lệ lạm phát (%) và đo tỷ lệ lạm phát bằng tỷ lệ phần trăm thay đổi của chỉ số giá cả (thường là chỉ số CPI). 

Trong thời kỳ tiền tệ bị mất giá, nền kinh tế có lạm phát. Tỷ giá hối đoái sẽ bị thay đổi bởi những tác động của lạm phát. Theo đó, tỷ lệ lạm phát của nước nào cao thì giá của đồng tiền nước đó sẽ bị giảm so với đồng tiền nước khác.

Cán cân thương mại

Quốc gia cần phải trang trải cho phần nhập khẩu dôi ra khi hàng hóa nhập khẩu từ bên ngoài về nhiều hơn so với xuất khẩu bằng cách giảm tài sản quốc tế hoặc vay tiền nước ngoài. Ngược lại, quốc gia đó sẽ tích tụ tài sản của thế giới bên ngoài khi quốc gia này có xuất khẩu ròng (nhập khẩu ít hơn xuất khẩu). Như vậy, nghiên cứu của kinh tế vĩ mô về mất cân bằng thương mại và dòng chu chuyển vốn quốc tế có liên quan chặt chẽ với nhau. 

Đối với nhiều phương diện, sự ổn định của kinh tế vĩ mô có ý nghĩa và vai trò rất quan trọng. Theo đó:

– Kinh tế vĩ mô và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ gắn kết chặt chẽ với nhau, các nhà kinh tế có thể đánh giá chính xác các yếu tố trong một nền kinh tế từ việc nghiên cứu kinh tế vĩ mô, từ đó có những định hướng và chiến lược phát triển đúng đắn.

– Kinh tế vĩ mô ổn định, giá trị đồng tiền ổn định đặc biệt là kiểm soát lạm phát mới tạo điều kiện thuận lợi để duy trì trật tự và thúc đẩy đầu tư, sản xuất kinh doanh, tiêu dùng, qua đó tăng trưởng kinh tế đất nước được thúc đẩy. Ngược lại, tăng trưởng kinh tế sẽ tạo nền tảng cho sự ổn định của vĩ mô thông qua việc các cân đối nền kinh tế được đảm bảo như cân đối hàng tiền, tiết kiệm đầu tư; thu chi ngân sách nhà nước, xuất nhập khẩu, cán cân thanh toán, việc làm, thu nhập và bảo đảm an sinh xã hội. 

– Đối với sự phát triển của xã hội thì ổn định kinh tế vĩ mô chính là một điều kiện cơ bản, đặc biệt là đối với hoạt động sản xuất kinh doanh.

– Và là một chức năng quan trọng trong vai trò quản lý nền kinh tế thị trường của Nhà nước.

So sánh điểm khác nhau giữa kinh tế vĩ mô và kinh tế vi mô

Kinh tế vĩ mô có mối quan hệ chặt chẽ với kinh tế vi mô. Cụ thể, hành vi của kinh tế vi mô sẽ tác động trực tiếp đến kết quả của kinh tế vĩ mô. Theo đó, sự phát triển của một nền kinh tế phải phụ thuộc vào sự phát triển của các doanh nghiệp và kinh tế vĩ mô sẽ ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hành vi của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, hai phạm trù kinh tế này là hoàn toàn khác nhau. 

Kinh tế vĩ mô và kinh tế vi mô

Vậy giữa kinh tế vĩ mô và kinh tế vi mô có những điểm gì khác nhau, bạn có thể tham khảo rõ qua bảng so sánh dưới đây:

Chỉ tiêu so sánh Kinh tế vĩ mô Kinh tế vi mô
Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu của kinh tế vĩ mô là những vấn đề về sự phát triển của nền kinh tế xã hội. Như sự tương tác giữa sự đầu tư vốn với tỷ lệ thất nghiệp, lạm phát, tổng sản phẩm xã hội, thu nhập quốc dân. Hành vi của từng cá thể, từng doanh nghiệp chính là phạm vi nghiên cứu của kinh tế vi mô
Mục tiêu Ổn định kinh tế của cả một quốc gia là mục tiêu mà kinh tế vĩ mô quan tâm đến Còn mục tiêu quan tâm của kinh tế vi mô là kinh tế của từng cá nhân, từng doanh nghiệp
Giải pháp Cải thiện kết quả hoạt động của toàn bộ nền kinh tế quốc dân  bằng cách tìm hiểu nhiều yếu tố khác nhau, từ đó đưa ra những giải pháp hợp lý. Đưa ra các quyết định về kinh tế từ việc lý giải cách thức các doanh nghiệp và cá nhân.

Giải đáp một số thuật ngữ trong kinh tế vĩ mô

Chính sách kinh tế vĩ mô là gì?

Đây là các chính sách kinh tế là chính sách của chính phủ được hoạch định và thực hiện nhằm mục đích ổn định kinh tế vĩ mô và đạt trạng thái toàn dụng lao động. Trong đó, chính sách tài chính và chính sách tiền tệ là hai chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng nhất. 

Vì chính sách kinh tế vĩ mô tác động đến phía cầu của nền kinh tế nên còn được gọi là chính sách quản lý tổng cầu.

AE trong kinh tế vĩ mô là gì?

Trong kinh tế vĩ mô, AE (tiếng Anh là Aggregate expenditure) là ký hiệu viết tắt của khái niệm tổng chi tiêu, còn được ký hiệu là E. 

Theo đó, tổng chi tiêu là tổng các khoản chi tiêu để mua hàng hóa và dịch vụ cuối cùng trong nền kinh tế, vì tổng mức chi tiêu thực hiện (EA) và giá trị sản lượng (GDP) phải bằng nhau, tổng mức chi tiêu sự kiến (EP) chính là tổng cầu (AD), nên để xác định tổng chi tiêu, ta thực hiện theo cách sau: 

EA= CA+IA+GA+XA-MA= GDP

EP= CP+IP+GP+XP-MP= AD

Trong đó:

  • CA, IA, GA, XA, MA: là mức thực hiện cho tiêu dùng, đầu tư, mua hàng của chính phủ, xuất khẩu và nhập khẩu của chi tiêu.
  • Cp, Ip, Gp, Mp: Đây là các đại lượng dự kiến tương ứng.

Tổng chi tiêu được cấu thành bởi các thành phần sau: Chi tiêu hộ gia đình, đầu tư, chi tiêu của chính phủ, xuất khẩu và nhập khẩu. 

Trong đó:

  • Chi tiêu hộ gia đình (C): Là tổng số tiền chi cho hàng hóa và dịch vụ của các cá nhân trong suốt một năm.
  • Đầu tư (I): Là số tiền đầu tư vào chi tiêu vốn như máy móc sản xuất mới, cải tiến bất động sản và mua các tòa nhà của người dân và doanh nghiệp.
  • Chi tiêu của chính phủ (G): Là tổng số tiền đã chi của chính phủ.
  • Xuất khẩu ròng (NX): Xác định xuất khẩu ròng bằng cách trừ tổng nhập khẩu của một quốc gia khỏi tổng xuất khẩu (NX = X – M). Đây là thành phần duy nhất có thể là một số âm. Theo đó, nếu nhập khẩu lớn hơn xuất khẩu thì xuất khẩu ròng sẽ mang giá trị âm.

Ví dụ: Quốc gia S có các dữ liệu gồm: 

  • Tiêu dùng hộ gia đình = 150.000 đô la
  • Đầu tư = 300.000 đô la
  • Chi tiêu chính phủ = 550.000 đô la
  • Xuất khẩu = 350.000 đô la
  • Nhập khẩu = 200.000 đô la

Từ các số liệu trên đây, ta có thể xác định tổng chi tiêu hay tổng cầu của nền kinh tế ở quốc gia S như sau:

Xuất khẩu ròng được tính bằng xuất khẩu trừ đi nhập khẩu hay: NX = X – M. Ta có:

AE = C + I + G + X

AE = 200.000 + 300.000 + 550.000 + (350.000 – 200.000) = 1.200.000

Qua đó ta xác định được tổng chi tiêu của nền kinh tế ở quốc gia S là 1.200.000 đô la.

APC trong kinh tế vĩ mô là gì?

APC (tiếng Anh là Average Propensity to Consume), đây là ký hiệu viết tắt của khái niệm xu hướng tiêu dùng bình quân. Theo đó, xu hướng tiêu dùng bình quân là tỉ lệ phần trăm thu nhập trung bình khi thu nhập tăng lên chi cho hàng hóa và dịch vụ. 

Xác định tỷ lệ phần trăm thu nhập chi tiêu bằng cách chia mức tiêu thụ trung bình, hoặc tổng chi tiêu của hộ gia đình, cho thu nhập trung bình hoặc tổng thu nhập của hộ gia đình. Trong nền kinh tế vĩ mô, xu hướng tiêu dùng bình quân (APC) của các hộ gia đình có thu nhập thấp cao hơn các hộ gia đình có thu nhập cao. Có thể lý giải điều này như sau, do so với các hộ gia đình có thu nhập cao thì xu hướng chi tiêu cho các nhu cầu cơ bản của hộ gia đình có thu nhập thấp nhiều hơn thu nhập khả dụng của họ, từ đó làm cho tỷ lệ thu nhập của họ chi cho hàng hóa và dịch vụ cao hơn.

Xu hướng tiết kiệm bình quân (APS) là nghịch đảo của xu hướng tiêu dùng bình quân. Tổng của APC và APS sẽ luôn luôn là 1, do thu nhập của các hộ gia đình sẽ sử dụng hoặc cho tiết kiệm hoặc cho tiêu dùng. Theo đó, cũng có thể tính xu hướng tiêu dùng bình quân (APC) bằng cách lấy 1 trừ đi APS.   

Ví dụ: GDP của một nền kinh tế tương đương thu nhập khả dụng là 700 tỷ đô la trong năm trước. Tổng tiền tiết kiệm của nền kinh tế là 380 tỷ đô la, phần còn lại được chi cho hàng hóa và dịch vụ.

Do đó, quốc gia này có APS là 0,54 hay 380 triệu đô la/700 triệu đô la, cho thấy nền kinh tế đã sử dụng thu nhập khả dụng cho tiết kiệm là 54%. Ngược lại, APC là 0,46 (1 – 0,54 = 0,46) cho thấy nền kinh tế đã dành 46% GDP cho chi tiêu hàng hóa và dịch vụ.   

MPS trong kinh tế vĩ mô là gì?

MSP (Marginal Propensity to Save) là ký hiệu viết tắt của khái niệm xu hướng tiết kiệm cận biên. Theo đó, khi thu nhập khả dụng tăng thêm một đơn vị thì lượng tiết kiệm sẽ tăng lên và đây được gọi là xu hướng tiết kiệm cận biên.

Công thức xác định MSP như sau:

MPS = (ΔS/ΔY)

Trong đó:

  • ΔS: Là biến động của mức tiêu dùng trong kỳ
  • ΔY: Là biến động của thu nhập trong kỳ

Chiến lược kinh tế vĩ mô tại Việt Nam

Năm 2021, kinh tế Việt Nam phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức do dịch bệnh có nhiều diễn biến phức tạp, nghiêm trọng. Tuy nhiên, nhờ việc đẩy nhanh tiến trình bao phủ vaccine, việc điều chỉnh chiến lược chống dịch linh hoạt giúp cân bằng hơn giữa việc đảm bảo sức khỏe người dân và phục hồi; đà tăng trưởng của nền kinh tế cả năm duy trì dương và đang phục hồi nhanh, lạm phát ở mức thấp nhất trong 6 năm qua, xuất nhập khẩu đạt mức kỷ lục, thu hút đầu tư nước ngoài hồi phục. Có thể coi đây là tiền đề quan trọng giúp nền kinh tế hồi phục và bật tăng mạnh mẽ trong năm 2022.

Nền kinh tế Việt Nam năm 2021

Nền kinh tế Việt Nam năm 2021

Tuy nhiên, do dịch bệnh vẫn diễn biến hết sức phức tạp, kinh tế Việt Nam vẫn còn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức; sức cầu tiêu dùng còn yếu; thiếu bền vững trong việc thu ngân sách; giải ngân đầu tư công không đạt mục tiêu cả năm; còn nhiều khó khăn trong hoạt động doanh nghiệp; rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng, vẫn còn những gián đoạn sản xuất; nợ xấu đang gia tăng. Theo đó, để phục hồi và phát triển kinh tế bền vững đòi hỏi cần phải có những chính sách, biện pháp trúng, đúng, kịp thời hơn nữa, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân.

Trong năm 2021, kinh tế vĩ mô vẫn ghi nhận nhiều điểm sáng

Năm 2021, bức tranh kinh tế Việt Nam năm 2021 vẫn ghi nhận 8 điểm sáng dù bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi dịch bệnh:

Một là, về cơ bản dịch bệnh vẫn được kiểm soát, tiến trình tiêm vaccine được đẩy nhanh; ban hành nhiều chính sách, gói hỗ trợ tạo điều kiện cho các hoạt động kinh tế xã hội khôi phục. Việt Nam phải đối mặt với các đợt bùng phát dịch bệnh trong năm 2021, điều này đã gây nhiều thiệt hại to lớn về người và của cũng như khiến cho nhiều hoạt động kinh tế – xã hội bị gián đoạn, ngưng trệ thậm chí là đóng băng.

Theo đó, để ứng phó với dịch bệnh, trong năm 2021 Đảng và Nhà nước đã đẩy mạnh ngoại giao vaccine, đẩy nhanh việc tiêm vaccine để sớm đạt được tỷ lệ 100% tiêm đủ 2 mũi cho người trưởng thành, làm cơ sở để Chính phủ điều chỉnh sang chính sách thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát dịch Covid-19 hiệu quả; tạo điều kiện cho các hoạt động kinh tế – xã hội khôi phục.

Bên cạnh đó, nhiều chính sách, gói hỗ trợ người dân và doanh nghiệp vượt qua khó khăn đã được ban hành trên cơ sở các nghị quyết của Quốc Hội, Chính phủ như: Nghị định số 52/2021/NĐ-CP về giãn hoãn thuế, tiền thuê đất; Nghị quyết 68/NQ-CP về an sinh xã hội; Nghị quyết 116/NQ-CP về hỗ trợ người lao động; Nghị quyết số 83/NQ-CP về giảm giá điện; Thông tư 03-NHNN, sau đó sửa đổi bằng Thông tư 14-NHNN về cơ cấu lại nợ và giảm lãi, phí.

Bên cạnh đó, sau khi Quốc Hội thông qua Chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ phục hồi thì Chính phủ cũng đang chuẩn bị ban hành Chiến lược phòng, chống dịch và Chương trình phục hồi, phát triển kinh tế – xã hội 2022-2023.

Hai là, trong bối cảnh dịch bệnh phức tạp, tác động tiêu cực đến mọi hoạt động kinh tế – xã hội thì phục hồi tăng trưởng GDP trong quý 4, là mức đáng khích lệ. Ước tính trong quý 4/2021, GDP tăng 5,22% so với cùng kỳ năm trước, điều này cho thấy đây là bước đầu cho sự phục hồi của nền kinh tế, nhờ Chính phủ đã tích cực triển khai tiêm chủng và thay đổi Chiến lược phòng, chống dịch với Nghị quyết 128. 

Tuy nhiên, tính chung GDP của cả năm 2021 chỉ tăng 2,58%, thấp hơn mức 2,91% của năm 2020 và là mức thấp nhất trong vòng 10 năm qua, song trong bối cảnh dịch bệnh rất phức tạp thì đây vẫn là mức có thể chấp nhận được.

Năm 2021, lĩnh vực nông – lâm – thủy sản tăng 2,9% (gần bằng mức trước dịch Covid-19) đây chính là động lực phục hồi kinh tế, đóng góp 14% vào mức tăng trưởng chung.

Tiếp đó, ngành công nghiệp chế biến – chế tạo tăng 6,4% (đóng góp 62,4% vào mức tăng trưởng chung); một số ngành dịch vụ như y tế và trợ giúp xã hội (+42,75%, đóng góp 21,3%), tài chính – ngân hàng – bảo hiểm (+9,4%, đóng góp 20,2%), công nghệ thông tin, viễn thông và truyền thông (+6%, đóng góp 14%)… Tuy nhiên, có một số ngành như du lịch, vận tải – kho bãi, lưu trú – ăn uống, công nghiệp khai khoáng,… giảm mạnh đã khiến cho đà tăng trưởng bị kéo lùi.

GDP giai đoạn 2017 - 2021

Ba là, lạm phát được kiểm soát tốt và ở mức thấp nhất trong vòng 6 năm qua. Năm 2021, CPI bình quân so với năm 2020 tăng 1,84%, đây là mức thấp nhất trong vòng 6 năm; chủ yếu là do sức cầu còn yếu, vòng quay tiền chậm.

Những kết quả tích cực này đã khẳng định những nỗ lực trong việc kiểm soát lạm phát, đảm bảo cân đối cung – cầu hàng hóa, bình ổn giá cả của Việt Nam, trong bối cảnh lạm phát toàn cầu tăng lên 3,2% (từ mức 2% năm 2020), giá nguyên, nhiên vật liệu toàn cầu tăng mạnh trong năm 2021.

Tăng 0,81% lạm phát cơ bản bình quân (đây là mức thấp nhất 10 năm qua) thấp hơn mức CPI bình quân chung, điều này cho thấy giá cả là yếu tố xảy ra lạm phát; và giá cả tăng không hẳn là cầu kéo (do sức cầu còn yếu) mà chủ yếu là do chi phí đẩy (giá hàng hóa, nguyên vật liệu đầu vào tăng). Tuy nhiên, tại Việt Nam áp lực lạm phát đang gia tăng.

CPI 12 tháng năm 2021

Bốn là, dù trong bối cảnh dịch bệnh vẫn diễn biến phức tạp, kinh tế thế giới có nhiều biến động thì đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vẫn đang hồi phục, ước tính đến hết ngày 20/12/2021, vốn FDI đăng ký đạt 31,15 tỷ USD, so với năm trước tăng 9,2%.

Trong đó, vốn đăng ký cấp mới đạt 15,25 tỷ USD, tăng 4,1%; tăng thêm vốn đăng ký đạt 9,01 tỷ USD, tăng 40,5%, trong khi vốn góp, mua cổ phần đạt 6,89 tỷ USD, so với năm trước giảm 7,7%.

Điều này cho thấy, Việt Nam vẫn duy trì được dòng vốn FDI dù dịch bệnh vẫn bùng phát mạnh trên diện rộng nhờ dần kiểm soát được dịch bệnh và cam kết tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư – kinh doanh.

Trái lại, cả năm 2021 giải ngân vốn FDI đạt 19,74 tỷ USD, so với năm trước giảm 1,2%; nguyên nhân chủ yếu là do dịch bệnh bùng phát mạnh, các biện pháp giãn cách xã hội nghiêm ngặt tại hầu hết các tỉnh thành làm ảnh hưởng đến các dự án đầu tư.

Năm là, xuất – nhập khẩu tăng mạnh, cán cân thương mại thặng dư. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa năm 2021 tăng trưởng khá tốt, đạt 668,5 tỷ USD, so với năm trước tăng 22,6%. Trong đó, đạt 336,3 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu, tăng 19% so với năm trước, bên cạnh đó kim ngạch nhập khẩu đạt 332,2 tỷ USD, tăng 26,5%.

Cán cân thương mại thặng dư 4 tỷ USD; cho thấy khôi phục sản xuất, xuất nhập khẩu đang được các doanh nghiệp nỗ lực của đẩy mạnh. Đây cũng là năm thứ 6 Việt Nam xuất siêu liên tục, và xuất nhập khẩu tăng cao, qua đó cho thấy vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu của Việt Nam ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý là tốc độ tăng xuất nhập khẩu ở đây đóng góp không nhỏ là do yếu tố giá hàng xuất tăng.

Sáu là, trong năm 2021, trong bối cảnh dịch bệnh bùng phát, giá cả hàng hóa, lạm phát thế giới tăng, để tăng cường ổn định vĩ mô và hỗ trợ doanh nghiệp, Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt cũng như bám sát diễn biến thị trường như tỷ giá ổn định, lãi suất giảm và duy trì ở mức thấp.

Nhờ vậy, mặt bằng lãi suất giảm nhẹ, lãi suất cho vay so với đầu năm giảm khoảng 0,8%, hỗ trợ doanh nghiệp, kích cầu tín dụng, ước tính dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng tăng khoảng 13,5%, cao hơn so với mức 13% năm trước.

Tốc độ huy động vốn tăng chậm hơn (khoảng 9%), thấp hơn mức tăng 13-14% các năm trước, một phần là do mặt bằng lãi suất thấp, phần khác là do dịch chuyển kênh đầu tư các tài sản sinh lời cao hơn như bất động sản, chứng khoán.

Tỷ giá tương đối ổn định, thậm chí đồng VND trong năm 2021 tăng khoảng 1,2% so với USD, dù chỉ số đồng USD (DXY) tăng 6,7% năm 2021, chủ yếu là do: 

  • Niềm tin vào khả năng phục hồi kinh tế của Việt Nam
  • Nhìn chung, cung – cầu ngoại tệ khá cân bằng, khi cán cân thương mại thặng dư 4 tỷ USD, kiều hối đạt 18,2 tỷ USD (theo WB) và giải ngân FDI đạt 19,7 tỷ USD. 

Đáng chú ý là từ tháng 4/2021 đến nay, Việt Nam được tháo mác “thao túng tiền tệ” nhờ Ngân hàng Nhà nước chủ động (cùng với Bộ Tài chính, Bộ Công thương…) trao đổi với Bộ Tài chính Mỹ.

Tỷ giá đồng nội tệ so với USD

Bảy là, chuyển đổi số, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo đạt nhiều bước tiến quan trọng. Bên cạnh tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19 cũng là tạo “cú huých” thúc đẩy cho kinh tế số Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Theo Báo cáo E-conomy (2021), về quy mô kinh tế internet, Việt Nam đứng thứ 3 ASEAN và xếp hạng 14/50 khu vực Châu Á.

Cụ thể trong năm 2021, kinh tế internet Việt Nam ước tính đạt 21 tỷ USD (khoảng 5,8% GDP năm 2021), so với năm 2020 tăng 31%. Trong đó, quy mô thương mại điện tử đạt 13 tỷ USD, so với năm 2020 tăng 53%, trở thành kênh phân phối hàng hóa, dịch vụ quan trọng trong bối cảnh dịch bệnh.

Thanh toán điện tử tăng nhanh và thuộc nhóm cao nhất thế giới với giá trị thanh toán qua kênh Internet, điện thoại di động và QR Code tăng tương ứng 29%, 88,3%, 129%; số lượng ví điện tử đang hoạt động là 16,4 triệu, so với năm 2020 tăng 20,2%.

Về đổi mới sáng tạo, Việt Nam xếp thứ 44/132 quốc gia (so với thứ hạng 42 năm 2019 và năm 2020), chủ yếu là do WIPO tính (27/81) chỉ số so với GDP đã điều chỉnh của Việt Nam (tăng 25,4% so với năm 2020). Đứng thứ ba ASEAN về thu hút vốn đầu tư Fintech, trong tổng số vốn của khu vực chiếm 11%.

Tám là, đạt kết quả tích cực trong hoạt động hội nhập quốc tế và đối ngoại, triển khai mạnh mẽ chiến lược ngoại giao vaccine, cho phép đẩy nhanh quá trình tiêm chủng và mở cửa nền kinh tế.

Dự báo kinh tế năm 2022 và chiến lược tăng trưởng kinh tế của Việt Nam

Trong bối diễn biến dịch Covid-19 còn phức tạp, khó lường, dự báo năm 2022 tăng trưởng GDP toàn cầu khoảng 4-4,5%, lạm phát toàn cầu khoảng 3,3%; Theo đó, theo các chuyên gia kinh tế, năm 2022 mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam sẽ là đa mục tiêu, trong đó vừa phòng, chống dịch bệnh hiệu quả, đảm bảo an toàn sức khỏe và sinh mạng người dân; vừa phục hồi, phát triển kinh tế xã hội trong trạng thái bình thường mới là mục tiêu trọng tâm.

Dự báo năm 2022 mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam sẽ là đa mục tiêu

Dự báo năm 2022 mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam sẽ là đa mục tiêu

Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu phục hồi và mức tăng trưởng kinh tế ở mức 6 – 6,5% như Quốc hội giao hay có thể cao hơn thì các chuyên gia đưa ra 6 kiến nghị như sau:

Một là, Chính phủ nhất quán quan điểm chỉ đạo là quyết tâm thực hiện “đa mục tiêu” gồm vừa phòng chống dịch, vừa phục hồi, phát triển kinh tế, năng lực y tế, an sinh xã hội được đảm bảo, với các cú sốc bên ngoài phải có năng lực chống chịu đối và có tâm thế phục hồi, tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức trong và sau đại dịch Covid-19.

Hai là, Chương trình phòng, chống dịch cần được sớm ban hành và thực hiện tốt với phương châm nhất quán là “sống chung an toàn với Covid”, trong đó có đề án, kế hoạch tổng thể về nâng cao năng lực y tế là vấn đề quan trọng cần quan tâm.

Bên cạnh đó, Chương trình phục hồi, phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2022-2023 (trên cơ sở chính sách tài khóa và tiền tệ hỗ trợ phục hồi mà Quốc Hội vừa thông qua) cần được sớm ban hành và thực thi hiệu quả. Cần gắn kết chặt chẽ chương trình này với Chiến lược phòng, chống dịch, đề án cơ cấu lại nền kinh tế và thực hiện 3 đột phá chiến lược.

Ba là, đẩy nhanh, quyết liệt cải cách, hoàn thiện thể chế (bao gồm cả khung pháp lý cho kinh tế số, mô hình kinh doanh mới); môi trường đầu tư – kinh doanh cần được cải thiện thực chất hơn nữa; các rào cản, vướng mắc cần kiên quyết tháo gỡ sớm nhất có thể. 

Chính phủ sớm ban hành hướng dẫn thực thi xây dựng đề án sửa đổi các bộ luật được người dân và doanh nghiệp quan tâm lớn của hiện nay như một luật sửa 8 luật, luật Đất đai, luật Nhà ở, luật Kinh doanh bất động sản, luật Giao dịch điện tử…

Bốn là, phối hợp chính sách cần được nâng cao hiệu quả, đặc biệt là giữa chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm: 

  • Thực hiện tốt Chương trình phục hồi, phát triển kinh tế xã hội;
  • Các rủi ro phát sinh, lạm phát, tài khóa (do phải chấp nhận nợ công, thâm hụt ngân sách, nghĩa vụ trả nợ, tín dụng tăng trong tầm kiểm soát) cần được kiểm soát; tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng tăng vốn và đề xuất phương án luật hóa phù hợp để xử lý nợ xấu.

Năm là, đẩy mạnh và cơ cấu lại nền kinh tế để có thể huy động và phân bổ hiệu quả nguồn lực. Các đề án cơ cấu lại của các cấu phần quan trọng (doanh nghiệp Nhà nước, tổ chức tín dụng, đầu tư công, ngân sách và đơn vị sự nghiệp công…) cần sớm ban hành để nhằm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII và Nghị quyết 31/2021/QH15 về kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2021-2025 của Quốc hội.

Sáu là, đối với việc phục hồi, phát triển doanh nghiệp cần được hết sức chú trọng. Theo đó, các chính sách hỗ trợ cần đẩy nhanh thực hiện hiệu quả (chú trọng phục hồi lao động); tăng tính gắn kết giữa các khối doanh nghiệp (trong nước với FDI, lớn với nhỏ); đối với mọi loại hình doanh nghiệp (bao gồm cả doanh nghiệp Nhà nước) chính thức áp dụng chuẩn mực quản trị theo thông lệ; để các hộ gia đình chuyển đổi thành doanh nghiệp siêu nhỏ thành công và hiệu quả bằng cách nâng đỡ và khuyến khích; bên cạnh đó, cần  hỗ trợ chuyển đổi số cho doanh nghiệp và tạo điều kiện để một số doanh nghiệp lớn dẫn dắt, lan tỏa và đi đầu trong kiến tạo, kết nối các chuỗi giá trị lớn.

Kết luận

Trên đây là những thông tin tổng quan về kinh tế vĩ mô cũng như chiến lược kinh tế vĩ mô tại Việt Nam. Qua đó có thể thấy, kinh tế vĩ mô là bức tổng thể chung cho thấy tốc độ phát triển kinh tế của một đất nước. Theo đó, phải đứng trên phương diện tổng thể toàn bộ nền kinh tế để điều hành chính sách kinh tế vĩ mô và phải phù hợp với đặc điểm đất nước trong từng thời kỳ. Đặc biệt, phải dựa trên cơ sở nền tảng vi mô để xác định rõ việc hoạch định chính sách vĩ mô. Hy vọng qua những nội dung vừa rồi sẽ giúp bạn đọc quan tâm trang bị được những kiến thức hữu ích. Cảm ơn bạn đã theo dõi bài viết.

Đánh giá bài viết

Tôi là Lan Anh - Biên tập viên phân tích tài chính, với 5 năm tìm hiểu về thị trường tài chính cũng như đầu tư. Rất hy vọng những kiến thức mà tôi học hỏi và tích lũy được có thể hỗ trợ, cung cấp đến các bạn những thông tin chính xác, tư vấn hỗ trợ xử lý các dịch vụ tài chính, đầu tư hiệu quả nhất!

    Để lại bình luận hoặc câu hỏi để được giải đáp nhanh chóng.



    BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC