FA chứng khoán là gì? Các chỉ báo sử dụng trong FA chứng khoán

0
Kiến thức chứng khoán

Khi tham gia vào thị trường chứng khoán, các nhà đầu tư cần tìm hiểu các thuật ngữ, các chỉ số và các phương pháp quan trọng để phân tích dự đoán được giá của chứng khoán, qua đó xây dựng chiến lược phù hợp nhằm thu lợi nhuận tốt nhất. Trong đó, phân tích cơ bản (FA) và phân tích kỹ thuật (TA) là 2 phương pháp rất quan trọng. Vậy FA trong chứng khoán là gì? Vì sao nên kết hợp Phân Tích Cơ Bản (FA) và Phân Tích Kỹ Thuật (TA)? Sẽ được giải đáp trong bài viết dưới đây, hãy cùng tham khảo ngay nhé.

Phân tích cơ bản - FA

Phân tích cơ bản – FA

FA chứng khoán là gì?

FA chứng khoán hay còn gọi là phân tích cơ bản (tiếng Anh là Fundamental Analysis) là một phương pháp phân tích quan trọng, dùng để đánh giá 1 chứng khoán có giá trị thấp hơn hay cao hơn giá trị hiện hành. Điều này sẽ giúp khẳng định được giá trị thực của 1 công ty có mối quan hệ mật thiết như thế nào với các đặc tính tài chính (Tiềm năng phát triển, những rủi ro mà công ty có thể gặp phải, dòng tiền mặt,…). Bất kỳ một sự chệch hướng nào so với giá trị thực đều có thể là biểu hiện cho thấy cổ phiếu đó đang bị định giá quá thấp hoặc định giá quá cao.

Phải đủ các yếu tố của phân tích cơ bản trong một chiến lược đầu tư dài hạn, như:

  • Mối quan hệ giữa giá trị hiện tại của cổ phiếu và các chỉ số tài chính được đo lường.
  • Trong một khoảng thời gian dài nhất định, mối quan hệ này có đủ ổn định không.
  • Trong mối quan hệ này, những sai lệch có được điều chỉnh lại vào thời điểm thích hợp không.

Việc nhà đầu tư chọn mua chứng khoán thông qua sử dụng phương pháp phân tích cơ bản để có tiềm năng tốt nhưng không được thị trường đánh giá cao, đó là phương thức đầu tư giá trị.

Còn theo Wikipedia, phân tích kỹ thuật (TA – Technical analysis) là một phương pháp phân tích chứng khoán dự báo hướng của giá cả thông qua việc nghiên cứu các dữ liệu thị trường quá khứ, chủ yếu là giá cả và khối lượng.

Các chỉ báo sử dụng trong FA chứng khoán

Lợi nhuận ròng trên mỗi cổ phiếu (EPS)

Trong chứng khoán, EPS (là cụm từ viết tắt của Earning Per Share) là chỉ số tài chính quan trọng trong chứng khoán biểu hiện lợi nhuận sau thuế của một cổ phiếu.

Công thức tính chỉ số EPS chứng khoán:

EPS = Lợi nhuận sau thuế/Tổng số lượng cổ phiếu lưu hành

Chỉ số EPS được chia làm 2 loại:

EPS cơ bản (có tên gọi khác là Basic EPS): Là lợi nhuận cơ bản trên một cổ phiếu của công ty. Loại này phổ biến hơn so với EPS pha loãng. 

Công thức tính cụ thể chỉ số EPS cơ bản:

EPS cơ bản = (Thu nhập ròng – Cổ tức cổ phiếu ưu đãi)/Số lượng cổ phiếu bình quân đang lưu hành

EPS pha loãng (có tên gọi khác là Diluted EPS): Được sử dụng khi các doanh nghiệp phát hành thêm trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu ưu đãi và phát hành thêm cổ phiếu. Trong tương lai các cổ phiếu này sẽ được chuyển thổi thành cổ phiếu thường.

Và EPS của doanh nghiệp cũng sẽ tăng thay đổi vào lúc đó. Thu nhập của mỗi cổ phiếu sẽ bị giảm vì sự gia tăng số lượng tham gia của các cổ phiếu thường không có thêm nguồn tiền chảy vào. 

Công thức được tính chỉ số EPS pha loãng như sau:

EPS pha loãng = (Lợi nhuận ròng – Cổ tức cổ phiếu ưu đãi)/(Số lượng cổ phiếu đang lưu hành + Lượng cổ phiếu sẽ được chuyển đổi)

Tuy việc đánh giá tiềm năng của 1 cổ phiếu, không thể chỉ sử dụng chỉ số EPS, nhưng khi kết hợp cùng những chỉ báo khác đây cũng là 1 chỉ số tiện dụng.

Hệ số giá trên thu nhập (P/E)

Tỷ lệ giá trên thu nhập – P/E (viết tắt của chỉ số Price to Earning ratio) là chỉ số đánh giá mối quan hệ giữa giá thị trường của cổ phiếu (Price) và thu nhập trên một cổ phiếu (EPS). 

Tỷ số P/E trong chứng khoán được tính bằng cách lấy giá thị trường bình quân của cổ phiếu do doanh nghiệp phát hành trong một kỳ nhất định chia cho thu nhập bình quân trên một cổ phần mà doanh nghiệp phải trả cho nhà đầu tư trong kỳ đó. 

Để tính chỉ số P/E của doanh nghiệp, bạn cần xác định 2 yếu tố cấu thành nên chỉ số: Price và EPS.

  • Price là giá thị trường của cổ phiếu.
  • EPS là thu nhập (lợi nhuận ròng) của một cổ phiếu đang lưu hành ở hiện tại.

Trong đó, EPS được coi là biến số quan trọng nhất.

Công thức tính chỉ số P/E:

P/E = P/EPS

Trong đó:

P (Price): Giá thị trường tại thời điểm giao dịch.

EPS (Earning Per Share): Lợi nhuận ròng của một cổ phiếu.

Do giá cổ phiếu luôn lớn hơn 0 (P>0), trong khi EPS của doanh nghiệp có thể > 0 (khi doanh nghiệp có lợi nhuận) hoặc < 0 (khi doanh nghiệp bị lỗ).

  • Khi EPS > 0, nhà đầu tư có thể tính và định giá cổ phiếu theo P/E
  • Khi P = P/E x EPS
  • Khi EPS < 0 thì không áp dụng được để tính P/E, mà cần phải dùng chỉ số P/B để thay thế.

Thông qua tỷ lệ P/E, nhà đầu tư có thể xác định xem 1 cổ phiếu này có được định giá quá cao (khi tỷ lệ này cao) hay định giá thấp (khi tỷ lệ này thấp hơn) hay không. Đây là một ý tưởng tốt, mặc dù quy tắc này không phải lúc nào cũng đúng nhưng sẽ cho kết quả có độ chính xác cao nếu được kết hợp với các định lượng và định tính khác.

Hệ số giá trên giá trị sổ sách (P/B – Price-to-Book ratio)

Chỉ số P/B

Chỉ số P/B

Hệ số trên giá trị sổ sách – P/B (Price to Book Ratio – Giá/Giá trị sổ sách) là một công cụ của phương pháp phân tích cơ bản, dùng để định giá cổ phiếu bằng cách so sánh giá của 1 cổ phiếu này với giá trị ghi sổ của cổ phiếu đó. Chỉ số này được tính bằng cách lấy giá đóng cửa hiện tại của cổ phiếu chia cho giá trị ghi sổ tại quý gần nhất cổ cổ phiếu đó.

Công thức tính chỉ số P/B:

P/B = Giá cổ phiếu/(Tổng giá trị tài sản – Giá trị tài sản vô hình – Nợ)

Chỉ số P/B có hạn chế là nó phù hợp với việc đánh giá doanh nghiệp “nặng về tài sản” hơn, tuy nhiên chỉ số sẽ không thể hiện được nếu doanh nghiệp không có nhiều tài sản vật chất.

Tỷ lệ giá/thu nhập so với tăng trưởng (PEG – Price/Earnings To Growth)

Tỷ lệ giá/thu nhập so với tăng trưởng (PEG) hay còn được gọi là chỉ số PEG hoặc hệ số PEG. Là tỷ lệ giá/thu nhập – P/E của cổ phiếu chia cho tốc độ tăng trưởng thu nhập trong thời gian xác định của công ty.

Công thức tính chỉ số PEG như sau:

PEG = PE/G

Trong đó:

  • PE: Là chỉ số P/E
  • G: Tốc độ tăng trưởng thu nhập (%)

Lưu ý: Tốc độ tăng trưởng thu nhập là 1 ước tính về tăng trưởng thu nhập được dự đoán của công ty trong 1 thời gian xác định.

Để tính toán giá trị tiềm năng của 1 cổ phiếu, so với chỉ số P/E thì các nhà đầu tư ưa chuộng sử dụng chỉ số PEG hơn vì nó đã tính đến tốc độ tăng trưởng dự kiến của công ty.

Nhược điểm của chỉ số P/E được khắc phục thông qua chỉ số PEG. Các nhà đầu tư sẵn sàng trả giá cao cho một cổ phiếu có chỉ số P/E cao, bởi họ tin rằng trong tương lai cổ phiếu này có tiềm năng tăng trưởng và chỉ số PEG giúp xác định mức độ tin cậy của giả định tăng trưởng của chỉ số P/E.

Ví dụ: Nội dung trong bảng dưới đây thể hiện số liệu của 2 công ty B và S:

Công ty B Giá mỗi cổ phiếu = 32 USD

EPS năm nay = 2 USD

EPS năm trước = 1,92 USD

Tỉ lệ P/E = 32/2 = 16

Tốc độ tăng trưởng thu nhập = (2/1,75) – 1 = 14%

Tỉ lệ PEG = 16/14 = 1.14

Công ty S Giá mỗi cổ phiếu = 50 USD

EPS năm nay = 2,5 USD

EPS năm trước= 1,98 USD

Tỉ lệ P/E = 50/2,5 = 20

Tốc độ tăng trưởng thu nhập = (2,5/1,98) – 1 = 26%

Tỉ lệ PEG = 20/26 = 0,76

Nếu xét theo tỷ lệ P/E thì ta có thể thấy công ty B hấp dẫn hơn công ty S vì công ty B có tỷ lệ P/E thấp hơn. Tuy nhiên, nếu xét theo tỷ lệ PEG, thì có thể thấy PEG của công ty S thấp hơn công ty B, nghĩa là cổ phiếu của công ty S đang được định giá thấp hơn so với tiềm năng tăng trưởng của nó.

Kết hợp giữa 2 phương pháp FA và TA trong chứng khoán

Tất cả các phương án phân tích cơ bản (FA) và phân tích kỹ thuật (TA) hiện nay đều nhằm trả lời cho 4 câu hỏi:

  • Mua khi nào? 
  • Mua giá nào? 
  • Bán khi nào?
  • Bán giá nào?

Nhà đầu tư phải trả lời được 4 câu hỏi này một cách rõ ràng thì mới có thể tồn tại và phát triển bền vững ở thị trường tài chính đầy biến động này.

  • Nhà đầu tư xác định cơ bản nội tại, khả năng tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp thông qua phương pháp TA. Theo đó, nếu chỉ dùng FA thì tỷ lệ thắng chỉ là 50%. Trường hợp nhà đầu tư chỉ nhìn vào FA và ra quyết định mua lúc giá đang downtrend thì theo thời gian giá trị tài sản vẫn sụt giảm, làm tâm lý nhà đầu tư bị ảnh hưởng, gồng lỗ, tốn thời gian và không tối ưu được vòng vốn.
  • Nhà đầu tư sẽ nhìn được lịch sử giá, lịch sử tăng trưởng của doanh nghiệp qua từng giai đoạn của cổ phiếu thông qua phương pháp TA, theo đó TA cho thấy các điểm mua/bán tốt bằng cách phân tích hành vi đám đông. Tuy nhiên, qua vài cây nến hay vài đường trendline của TA sẽ không phản ánh được tiềm năng tăng trưởng và giá trị của doanh nghiệp. Do đó, ở TA tỷ lệ thắng cũng chỉ là 50%.

Trong đầu tư, TA vẫn là phương pháp cơ bản nhất, bên cạnh đó nhà đầu tư cũng nên kết hợp cùng phương pháp FA sẽ cho ra chiến lược đầu tư hiệu quả hơn:

  • Nếu FA tốt + TA tốt: Nên tiếp tục nắm giữ cổ phiếu 
  • Nếu FA tốt + TA quá cao: Nên cân nhắc việc bán cổ phiếu
  • Nếu FA tốt + TA xấu, quá thấp: Nên cân nhắc việc mua cổ phiếu
  • Nếu FA xấu + TA tốt, quá cao: Nên cân nhắc việc bán cổ phiếu
  • Nếu FA xấu + TA xấu: Nên bán cổ phiếu bằng mọi giá

Kết luận

Vừa rồi là những thông tin về khái niệm FA chứng khoán là gì Vì sao nên kết hợp Phân Tích Cơ Bản (FA) và Phân Tích Kỹ Thuật (TA)? Hy vọng với những kiến thức trong bài viết trên sẽ hữu ích trong quá trình đầu tư của bạn.

Đánh giá bài viết

Tôi là Lan Anh - Biên tập viên phân tích tài chính, với 5 năm tìm hiểu về thị trường tài chính cũng như đầu tư. Rất hy vọng những kiến thức mà tôi học hỏi và tích lũy được có thể hỗ trợ, cung cấp đến các bạn những thông tin chính xác, tư vấn hỗ trợ xử lý các dịch vụ tài chính, đầu tư hiệu quả nhất!

    Để lại bình luận hoặc câu hỏi để được giải đáp nhanh chóng.



    BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC

    DMCA.com Protection Status