Chính sách tiền tệ là gì? Tổng quan về chính sách tiền tệ tại Việt Nam

0
Kiến thức tài chính

Chính sách tiền tệ là một trong những chính sách quan trọng góp phần ổn định tăng trưởng kinh tế. Theo đó, nền kinh tế có thể bị tác động gián tiếp hoặc trực tiếp bởi những thay đổi của chính sách tiền tệ dẫn đến những thay đổi của một số yếu tố. Vậy chính sách tiền tệ là gì vai trò trong nền kinh tế cũng như tổng quan về chính sách này tại Việt Nam. Mời bạn đọc cùng tìm hiểu rõ qua bài viết dưới đây.

Chính sách tiền tệ là gì?

Chính sách tiền tệ

Chính sách tiền tệ (Monetary policy) là chính sách để ổn định tiền tệ bằng cách sử dụng các công cụ của hoạt động tín dụng và ngoại hối. Từ đó giúp ổn định, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển.

Có thể hiểu một cách đơn giản, chính sách tiền tệ là chính sách kinh tế vĩ mô được thực hiện bởi ngân hàng trung ương (hoặc cơ quan hữu trách về tiền tệ). Theo đó, chính sách này được Ngân hàng trung ương thực hiện để đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô như ổn định giá cả, tỷ lệ thất nghiệp, tăng trưởng kinh tế… của Chính phủ.

Phân loại chính sách tiền tệ

Theo đó, có thể chia chính sách tiền tệ làm 2 loại như sau:

Chính sách tiền tệ mở rộng

Chính sách tiền tệ mở rộng hay còn được gọi là chính sách tiền tệ nới lỏng, đây là chính sách mà Ngân hàng Trung ương mở rộng cho nền kinh tế mức cung tiền lớn hơn mức bình thường, làm giảm lãi suất xuống, qua đó làm tổng cầu tăng lên, sẽ tạo được cho người lao động công ăn việc làm, thúc đẩy đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh. Từ đó mở rộng quy mô của nền kinh tế, giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống và tăng thêm thu nhập. 

Dưới đây là 1 trong 3 cách để thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng mà Ngân hàng Trung ương có thể thực hiện sau đây:

  • Mua vào trên thị trường chứng khoán
  • Hạ thấp tỷ lệ dự trữ bắt buộc
  • Hạ thấp mức lãi suất chiết khấu

Tuy nhiên, trong một số trường hợp có thể thực hiện đồng thời 2 hoặc 3 cách cùng một lúc. 

Trong nền kinh tế vĩ mô, khi điều kiện nền kinh tế bị suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng thì chính sách tiền tệ nới lỏng sẽ được áp dụng. Do đó, chính sách này đồng nghĩa với chính sách tiền tệ chống suy thoái.

Chính sách tiền tệ thắt chặt

Chính sách tiền tệ thắt chặt còn được gọi là chính sách tiền tệ thu hẹp, đây là chính sách tác động nhằm giảm bớt mức cung tiền trong nền kinh tế của Ngân hàng Trung ương, qua đó làm tăng lãi suất trên thị trường lên. Từ đó thu hẹp tổng cầu, làm giảm mức giá chung xuống. 

Thông thường, khi nền kinh tế của một quốc gia đã có sự phát triển thái quá, lạm phát ngày càng gia tăng thì chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ được áp dụng. Cho nên chính sách này đồng nghĩa với chính sách tiền tệ chống lạm phát.

Để thực hiện chính sách tiền tệ này, các biện pháp làm giảm mức cung tiền mà Ngân hàng Trung ương thường sử dụng qua các cách như sau:

  • Bán ra trên thị trường chứng khoán
  • Tăng mức dự trữ bắt buộc
  • Tăng lãi suất chiết khấu, kiểm soát chặt chẽ các hoạt động tín dụng…

Theo đó, Ngân hàng Trung ương có thể tùy vào tình hình hoạt động của nền kinh tế, các mục tiêu kinh tế vĩ mô theo từng thời kỳ phát triển mà thực hiện một trong hai chính sách tệ tiền nói trên để mang đến sự ổn định cho nền kinh tế của đất nước.

Chính sách tiền tệ bị ảnh hưởng bởi những yếu tố nào?

Chính sách tiền tệ Trong nền kinh tế vĩ mô, có nhiều yếu tố liên quan tác động đến chính sách tiền tệ, về cơ bản có một số yếu tố cụ thể như sau:

– Tính cạnh tranh và đa dạng hóa của thị trường tài chính: Khả năng điều tiết của chính sách tiền tệ cũng sẽ chịu những ảnh hưởng nhất định nếu có ít cạnh tranh trên một thị trường tài chính và thị phần tập trung chủ yếu ở một số ngân hàng lớn. Bên cạnh đó, sự phát triển của các thị trường khác cũng sẽ tạo ra những ảnh hưởng đối với tác động từ chính sách tiền tệ như chứng khoán, bảo hiểm, các thị trường phái sinh… Theo đó, sự tác động của chính sách tiền tệ càng hạn chế khi cung tiền nằm ngoài tín dụng ngân hàng càng bị tác động bởi nhiều nhân tố.

– Tình trạng tài chính của các cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp: Chính sách tiền tệ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tình trạng tài chính của các cá nhân, hộ gia đình hay doanh nghiệp, theo 3 cách sau đây:

  • Chính sách tiền tệ sẽ phụ thuộc vào khả năng tiếp cận vốn (mức độ mà các chi phí này được tài trợ thông qua hệ thống tài chính) mà tác động đến hành vi tiêu dùng, đầu tư của cá nhân và doanh nghiệp 
  • Chính sách tiền tệ sẽ phụ thuộc vào cơ cấu của các danh mục đầu tư tài chính của cá nhân và doanh nghiệp mà tác động đến giá tài sản như cổ phiếu, bất động sản…
  • Sự tác động của chính sách tiền tệ đối với các quyết định được đưa ra cũng bị ảnh hưởng bởi trạng thái tài chính ban đầu của cá nhân và doanh nghiệp. Do đó, so với những nước phụ thuộc vào nguồn vốn tín dụng thì tác động của chính sách tiền tệ ở tại các nước có tiêu dùng và đầu tư chủ yếu dựa trên tiết kiệm hoặc tái đầu tư từ lợi nhuận sẽ bị hạn chế hơn.

Chính sách ngoại hối: Hiệu quả của chính sách tiền tệ trong điều kiện tự do hóa các giao dịch vốn sẽ chịu ảnh hưởng bởi chính sách ngoại hối và khả năng thay thế giữa tài sản trong nước và tài sản nước ngoài. Do đó, mọi hành động của chính sách tiền tệ sẽ bị trung hòa qua sự dịch chuyển của dòng vốn khi khả năng thay thế là ổn định. Theo đó, sẽ làm giảm tác động của chính sách tiền tệ lên tổng cầu do việc tăng khả năng tiếp cận dòng vốn từ nước ngoài cũng giúp các doanh nghiệp bớt phụ thuộc vào tín dụng trong nước.

Tình trạng đô la hóa trên thị trường tài chính: Tình trạng đô la hóa trên thị trường tài chính diễn ra phổ biến và nó đặt ra đối với việc xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ từ việc thống kê tổng lượng tiền, xác định các mục tiêu… nhiều thách thức. Theo đó, khả năng đo lường cung tiền trong nền kinh tế sẽ bị hạn chế bởi tình trạng này. Đặc biệt, sẽ dẫn đến những rủi ro do mất cân đối kỳ hạn và chênh lệch loại tiền tệ khi cả bên tài sản có và tài sản nợ đều tồn tại tình trạng đô la hóa. 

Các công cụ của chính sách tiền tệ 

Công cụ chính sách tiền tệ

Dưới đây là các công cụ mà chính sách tiền tệ sẽ sử dụng để điều chỉnh mức cung tiền trong nền kinh tế:

Tỷ lệ dự trữ bắt buộc

Tỷ lệ dự trữ bắt buộc chính là tỉ lệ lượng tiền cần phải dự trữ so với tổng số tiền gửi huy động. Đây là tỉ lệ mà các ngân hàng thương mại phải bảo đảm theo yêu cầu của Ngân hàng trung ương. Cung tiền sẽ thay đổi khi tỷ lệ dự trữ bắt buộc thay đổi, theo đó cung tiền sẽ giảm xuống nếu tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng. Cho nên Ngân hàng trung ương có thể điều tiết được cung tiền bằng cách thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc.

Nghiệp vụ thị trường mở

Trong nền kinh tế vĩ mô, khi Ngân hàng trung ương mua vào hoặc bán ra các chứng khoán tài chính trên thị trường mở thì nghiệp vụ thị trường mở sẽ hoạt động. Điều này khiến cho khối lượng dự trữ của các Ngân hàng thương mại bị gây ảnh hưởng, từ đó khả năng cung ứng tín dụng của các Ngân hàng thương mại cũng bị tác động dẫn đến làm tăng hay giảm khối lượng tiền tệ.

Ví dụ: Nếu ngân hàng Trung ương in thêm 1.5 triệu đồng và dùng 1.5 triệu đồng để mua các trái phiếu của chính phủ trên thị trường tự do. Lúc này lượng chứng khoán trị giá 1.5 triệu đồng của các ngân hàng thương mại và tư nhân bị mất đi nhưng đổi lại, họ có thêm 1.5 triệu đồng tiền mặt, điều đó làm tăng cung tiền lên. Và ngược lại, nếu Ngân hàng trung ương bán ra 1.5 triệu đồng trái phiếu chính phủ thì lúc này các ngân hàng thương mại và tư nhân sẽ có thêm lượng chứng khoán trị giá 1.5 triệu đồng và cung tiền lúc này sẽ giảm xuống vì họ mất 1.5 triệu đồng tiền mặt.

Lãi suất chiết khấu

Đây là lãi suất mà các ngân hàng thương mại vay từ Ngân hàng trung ương để đáp ứng những nhu cầu tiền mặt bất thường. Lãi suất này có thể bị thay đổi bởi cơ quan hữu trách về tiền tệ, thông qua đó điều chỉnh lượng tiền cơ sở. Lượng cung tiền sẽ thay đổi khi lượng tiền cơ sở thay đổi, theo đó các ngân hàng thương mại sẽ thấy việc dự trữ tiền mặt quá ít để đáp ứng nhu cầu rút tiền bất thường của khách hàng khi lãi suất tái chiết khấu cao, khiến lãi suất mà những ngân hàng này phải trả cao hơn khi phải vay Ngân hàng trung ương trong trường hợp thiếu dự trữ. Điều này sẽ khiến cho ngân hàng thương mại phải dè chừng và tự nguyện dự trữ nhiều hơn. Qua đó giúp làm cung tiền trên thị trường giảm xuống. 

Chính sách tiền tệ có vai trò thế nào trong nền kinh tế

Chính sách tiền tệ có vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế vĩ mô, đặc biệt là trong việc điều tiết khối lượng tiền lưu thông trong toàn bộ nền kinh tế. Theo đó, ngân hàng Trung ương có thể kiểm soát hệ thống tiền tệ thông qua chính sách tiền tệ, từ đó kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, ổn định sức mua của đồng tiền nhằm thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng. Bên cạnh đó, chính sách này còn là công cụ dùng để kiểm soát toàn bộ hệ thống các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng. Cụ thể:

Khống chế tỷ lệ thất nghiệp – Tạo ra công ăn việc làm

Dù là mở rộng hay thu hẹp thì chính sách tiền tệ cũng sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội, quy mô sản xuất kinh doanh, từ đó cũng sẽ khiến cho tỷ lệ thất nghiệp bị ảnh hưởng tới. Theo đó, nền kinh tế phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát tăng lên nếu muốn có một tỷ lệ thất nghiệp giảm.

Điều này đặt ra trách nhiệm phải vận dụng các công cụ tiền tệ để góp phần tăng cường, mở rộng đầu tư sản xuất kinh doanh cho ngân hàng Trung ương, đồng thời tích cực tham gia vào sự tăng trưởng liên tục, ổn định và khống chế tỷ lệ thất nghiệp để không vượt quá mức tăng thất nghiệp tự nhiên.

Tăng trưởng kinh tế

Đối với chính sách tiền tệ, mục tiêu hàng đầu và quan trọng nhất chính là tăng trưởng kinh tế. Trong đó, lãi suất và số cầu tổng quát là hai yếu tố thể hiện sự tăng trưởng kinh tế. Theo đó, lãi suất và số cầu tổng quát đều bị tác động mạnh dù khối tiền tệ tăng hay giảm, từ đó cũng khiến cho sự gia tăng đầu tư sản xuất bị tác động đến cũng như tác động lên tổng sản lượng quốc gia, điều đó có nghĩa là tác động lên sự tăng trưởng của nền kinh tế. Do đó, chính sách tiền tệ phải thông qua tăng hay giảm khối tiền tệ thích hợp trong nền kinh tế để nhằm vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế. 

Tăng trưởng kinh tế chính là mục tiêu hàng đầu và quan trọng nhất của chính sách tiền tệ

Tăng trưởng kinh tế chính là mục tiêu hàng đầu và quan trọng nhất của chính sách tiền tệ

Ổn định giá cả trên thị trường

Ổn định giá cả có ý nghĩa quan trọng trong nền kinh tế vĩ mô cũng như vi mô, nó giúp cho Nhà nước hoạch định phương hướng phát triển kinh tế hiệu quả vì sự biến động của giá cả đã được loại trừ. Theo đó, môi trường đầu tư sẽ ổn định nhờ việc ổn định giá cả, đó góp phần thu hút vốn đầu tư, thúc đẩy các doanh nghiệp, các cá nhân sản xuất đem lại cho mình cũng như xã hội nguồn lợi.

Ổn định lãi suất

Chính là thực hiện lãi suất tín dụng cung ứng phương tiện thanh toán thông qua nghiệp vụ tín dụng ngân hàng cho nền kinh tế quốc dân. Cụ thể, dựa trên các quỹ cho vay được hình thành từ các nguồn tiền gửi của xã hội cùng với hệ thống lãi suất linh hoạt, phù hợp với sự vận động của cơ chế thị trường.

Ổn định thị trường tài chính và ngoại hối

Chính sách tài chính tiền tệ làm ổn định thị trường tài chính để điều hành nền kinh tế của mỗi chính phủ. Ổn định lãi suất cũng thúc đẩy ổn định thị trường tài chính, theo đó sự mất ổn định các tổ chức tài chính cũng có thể xảy ra bởi biến động trong lãi suất. 

Việc tỷ giá ổn định còn có ý nghĩa rất lớn đối với việc củng cố niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài chứ không chỉ có tác động tích cực đối với thị trường ngoại hối bởi khi các nhà đầu tư nước ngoài có ý định đầu tư vào một quốc gia nào đó thì chính sách tỷ giá luôn là một yếu tố vĩ mô quan trọng để họ xem xét. Sức mua của đồng tiền có thể bị ảnh hưởng bởi biến động tỷ giá, từ đó cũng khiến cho hoạt động của nền kinh tế bị tác động đến (tùy theo mức độ hướng ngoại của nền kinh tế).

Tuy nhiên, chính sách tiền tệ cũng tồn tại một vài hạn chế nhất định như:

  • Khi đầu tư tư nhân không nhạy cảm với lãi suất thì hiệu lực của chính sách tiền tệ sẽ thấp. Theo đó chi phí (vốn) đầu vào của doanh nghiệp tăng lên khi lãi suất tăng, điều này làm tăng cao giá hàng hoá đầu ra, lạm phát không được kiểm soát. Do vậy, hiệu quả của chính sách tiền tệ sẽ kém đi.
  • Nếu chính phủ không cam kết kiểm soát việc in thêm tiền thì chính sách tiền tệ sẽ kém hiệu quả. Theo đó, khi chính phủ sử dụng chính sách tiền tệ thắt chặt để kiểm soát lạm phát, thì có thể chính phủ sẽ in thêm tiền trước áp lực bù đắp ngân sách bị thâm hụt. Điều này sẽ gây tác động ngược chiều với chính sách tiền tệ thắt chặt.
  • Theo đó, lãi suất có thể bị giảm xuống mức quá thấp khi sử dụng chính sách tiền tệ mở rộng, điều này khiến cho các cá nhân quyết định nắm giữ tiền mặt và không muốn gửi tiền vào ngân hàng. Qua đó khiến vốn cho vay của hệ thống ngân hàng thương mại thiếu và nó sẽ tác động đến việc không thể mở rộng đầu tư tư nhân, làm hiệu quả của chính sách bị giảm xuống.

Giải đáp các câu hỏi liên quan đến chính sách tiền tệ

Chính sách tiền tệ dưới chế độ tỷ giá hối đoái là như thế nào? 

Là sự tác động đối với tính hiệu quả của chính sách tiền tệ tại một quốc gia của tỷ giá hối đoái. Theo đó:

  • Khả năng trong vận hành một chính sách tiền tệ nội địa độc lập của chính phủ để nhằm duy trì sự ổn định của nền kinh tế trong nước sẽ bị hạn chế bởi việc thực hiện chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi. Tuy nhiên trong thực tế, do chế độ tỷ giá hối đoái cố định tạo ra sự ổn định nên vẫn có nhiều chính phủ thích chế độ tỷ giá hối đoái này. 
  • Chế độ tỷ giá hối đoái cố định tạo ra sự ổn định, tuy nhiên để nhằm giữ cho tỷ giá hối đoái cố định thì việc thực hiện các biện pháp chính sách tương đối khó khăn và tốn kém, và trên hết chính sách tiền tệ trở nên vô hiệu lực bởi chế độ này.

Chính sách tiền tệ thu hẹp là gì? 

Chính sách tiền tệ thu hẹp (Contractionary Monetary policy) là chính sách được ngân hàng trung ương kiểm soát và thực hiện bằng cách tăng các mức lãi suất cơ bản khác nhau, hoặc là các biện pháp khác nhằm tăng lượng cung tiền.

Theo đó, giới hạn lượng tiền đang lưu thông hiện tại trên thị trường để nhằm giảm lạm phát chính là mục đích của chính sách tiền tệ thu hẹp, đồng thời nhắm đến việc chế ngự lượng vốn đầu cơ và đầu tư không bền vững mà trước đó đã tạo ra của chính sách mở rộng.

Chính sách tiền tệ lạm phát là gì?

Thực chất, chính sách tiền tệ lạm phát chính là chính sách tiền tệ thu hẹp. Theo đó, chính sách này sẽ được áp dụng khi một quốc gia có nền kinh tế phát triển thái quá, lạm phát ngày càng gia tăng, do đó chính sách tiền tệ thắt chặt đồng nghĩa với chính sách tiền tệ chống lạm phát hay chính sách tiền tệ lạm phát.

So sánh sự khác nhau giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa

Trong kinh tế vĩ mô, chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ là hai chính sách điều tiết kinh tế vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, giữa hai chính sách này có những điểm khác khác biệt như sau:

Tiêu chí so sánh Chính sách tiền tệ Chính sách tài khóa
Định nghĩa Chính sách tiền tệ là chính sách mà Ngân hàng trung ương thực hiện kiểm soát và ổn định tiền tệ để đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô như ổn định giá cả, tỷ lệ thất nghiệp, tăng trưởng kinh tế… của Chính phủ Chính sách tài khóa là các biện pháp can thiệp đến hệ thống thuế khóa và chi tiêu của chính phủ để nhằm tác động vào quy mô hoạt động kinh tế.
Nguyên tắc Thao túng cung tiền để ảnh hưởng đến kết quả kinh tế như thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giảm thiểu lạm phát, tỷ giá hối đoái, tỷ lệ thất nghiệp… Thao túng mức độ tổng cầu trong nền kinh tế để đạt được mục tiêu kinh tế như ổn định giá cả, tạo công ăn việc làm đầy đủ và thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế.
Công cụ thực hiện chính sách – Lãi suất

– Tỷ lệ dự trữ bắt buộc

– Chính sách tỷ giá hối đoái

– Nghiệp vụ thị trường mở…

– Thuế 

– Số tiền chi tiêu của chính phủ

Người tạo chính sách Ngân hàng Trung ương Chính phủ

Chính sách tiền tệ của Việt Nam năm 2022

Năm 2021 tại Việt Nam, những tác động của dịch bệnh Covid-19 đã đưa tới những ảnh hưởng nhất định đối với nền kinh tế của Việt Nam. Mặc dù chịu ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch COVID-19 nhưng với các giải pháp đồng bộ và chủ động của ngành Ngân hàng đã đạt được những kết quả tích cực góp phần đưa tín dụng toàn nền kinh tế tăng ngay từ đầu năm và cao hơn so cùng kỳ năm 2020, cụ thể: Tổng dư nợ nền kinh tế đạt khoảng 10,38 triệu tỷ đồng, so với cuối năm 2020 tăng khoảng 13% (tổng vốn huy động của nền kinh tế đạt khoảng 11,23 triệu tỷ đồng, tăng 8,44%); lĩnh vực ưu tiên có mức tăng trưởng cao hơn mức tăng tín dụng chung của nền kinh tế là 4/5 lĩnh vực.

Mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục ở mức thấp và so với cuối năm 2020 tiếp tục giảm thêm 0,81%/năm; trong đó cho vay ngắn hạn bình quân bằng VND đối với một số ngành, lĩnh vực có mức lãi suất là 4,3%/năm, thấp hơn so với mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa theo quy định của NHNN (4,5%/năm). Theo đó, tổng số tiền lãi TCTD đã miễn, giảm, hạ cho khách hàng tính đến hết năm 2021 là khoảng 34,9 nghìn tỷ đồng.

Trong năm 2021, cơ cấu lại thời hạn trả nợ cũng đã được các TCTD tích cực thực hiện, nhóm nợ vẫn giữ nguyên, lũy kế từ khi có dịch giá trị nợ đã cơ cấu đạt hơn 607 nghìn tỷ đồng; hiện số lượng khách hàng đang được tiếp cận chính sách là hơn 775 nghìn, với gần 300 nghìn tỷ đồng dư nợ; cho có hơn 2 triệu khách hàng được miễn, giảm, hạ lãi suất với dư nợ hơn 3,87 triệu tỷ đồng. Bên cạnh đó, thực hiện chỉ đạo của NHNN, các TCTD cũng đã đẩy mạnh việc giảm phí, theo đó trong năm 2021 đạt trên 2.500 tỷ đồng tổng số tiền phí đã giảm cho khách hàng.

Bước sang năm 2022, đại dịch Covid-19 vẫn có những diễn biến hết sức phức tạp. Theo đó, ngành ngân hàng đã có nhiều giải pháp phù hợp trong điều kiện bình thường mới, để thích ứng và đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì hỗ trợ tăng trưởng, nhiều cơ chế kinh doanh linh hoạt để hỗ trợ doanh nghiệp được đưa ra bởi các ngân hàng thương mại; đồng thời, chung tay cùng cộng đồng thực hiện trách nhiệm xã hội với nhiều đóng góp thiết thực.

Mới đây, bà Nguyễn Thị Hồng – Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-NHNN về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành ngân hàng trong năm 2022. Cụ thể, để nhằm kiểm soát lạm phát, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ phục hồi tăng trưởng kinh tế và đảm bảo sự phát triển an toàn, bền vững của hệ thống các tổ chức tín dụng, bà đã yêu cầu các đơn vị thuộc NHNN và các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện tốt các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng năm 2022.

Chân dung Thống đốc Ngân hàng - Nguyễn Thị Hồng

Chân dung Thống đốc Ngân hàng – Nguyễn Thị Hồng

Xác định mục tiêu, nhiệm vụ của ngành Ngân hàng 2022, hạn chế tối đa nợ xấu phát sinh

Được biết, trong năm 2022 theo chỉ thị xác định 7 nhóm mục tiêu và nhiệm vụ tổng quát của ngành Ngân hàng như sau:

Thứ nhất, điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác để nhằm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu năm 2022 bình quân khoảng 4%, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ phục hồi tăng trưởng cho nền kinh tế, đối thời với diễn biến thị trường trong và ngoài nước cần phải kịp thời thích ứng.

Thứ hai, thực hiện các giải pháp nhằm kiểm soát quy mô, tăng trưởng tín dụng hợp lý, hướng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ, hỗ trợ kinh tế xã hội phục hồi và phát triển; đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cần tiếp tục kiểm soát chặt chẽ tín dụng. Đồng thời, đối với các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho người dân và doanh nghiệp bị ảnh hưởng dịch bệnh cần tiếp tục triển khai đồng bộ.

Ba là, về công tác cơ cấu lại hệ thống các TCTD tiếp tục thực hiện theo “Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021-2025” sau khi được phê duyệt, trong đó các TCTD yếu kém cadan được tập trung xử lý; phát triển hệ thống các TCTD hoạt động lành mạnh, chất lượng, hiệu quả, công khai, minh bạch, đáp ứng các chuẩn mực về an toàn hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật và tiệm cận với thông lệ quốc tế.

Bốn là, chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng và hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) cần phải tập trung đẩy mạnh.Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, cơ chế, chính sách, thúc đẩy và tạo thuận lợi cho chuyển đổi số ngành Ngân hàng, TTKDTM, đáp ứng yêu cầu của các mô hình kinh doanh và sản phẩm dịch vụ mới dựa trên nền tảng công nghệ thông tin, ngân hàng số, thanh toán số. Tăng cường bảo mật cho các hoạt động thanh toán và chuyển đổi số.

Năm là, đối với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động ngân hàng cần được tiếp tục hoàn thiện để nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và trật tự kỷ cương, đảm bảo tính đồng bộ, nhất quán, phù hợp với hệ thống pháp luật Việt Nam và các cam kết quốc tế.

Sáu là, công tác cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh cần được đẩy mạnh, qua đó tạo cho người dân và doanh nghiệp các điều kiện thuận lợi. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương hành chính.

Bảy là, Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 cần phải tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả; Chiến lược tài chính toàn diện Quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; các Chương trình/Kế hoạch hành động và các Đề án đã ban hành của Ngành.

Không chủ quan với rủi ro lạm phát, kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào bất động sản

Dựa vào mục tiêu và nhiệm vụ trên đây, Thống đốc Nguyễn Thị Hồng yêu cầu các đơn vị thuộc NHNN tích cực tham mưu, chủ động triển khai các giải pháp theo chức năng, nhiệm vụ được giao, trong đó cần tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm sau đây:

Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động ngân hàng; đối với hoạt động ngân hàng cần chủ động rà soát, sửa đổi, bổ sung cơ chế chính sách, quy định pháp luật phù hợp với thực tiễn, trong đó xây dựng Luật phòng, chống rửa tiền (sửa đổi); rà soát/tổng kết, nghiên cứu khả năng sửa đổi, bổ sung Luật NHNN, Luật các TCTD,… nghiên cứu, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về điều hành CSTT, tín dụng và quản lý ngoại hối; khuôn khổ pháp lý về hoạt động thanh tra, giám sát,… là trọng tâm.

Về điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng, ngoại hối và vàng: Để chủ động điều hành đồng bộ, linh hoạt các công cụ cần bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ, tình hình dịch bệnh và đưa ra giải pháp CSTT phù hợp nhằm ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối, kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng theo mục tiêu đã đề ra.

Theo đó, điều hành tín dụng hỗ trợ phục hồi tăng trưởng kinh tế tuy nhiên đối với rủi ro lạm phát không chủ quan; Chỉ đạo tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả đối với TCTD, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ, cho vay phục vụ nhu cầu đời sống, mức lãi suất hợp lý đối với tín dụng tiêu dùng, vốn vay phải đảm bảo an toàn và tuân thủ theo quy định pháp luật, hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế xã hội;

Các điều kiện cấp tín dụng không được nới lỏng; tiếp tục kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; đồng thời, tạo cho người dân, doanh nghiệp điều kiện thuận lợi để tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng.

Bên cạnh đó, Thống đốc Nguyễn Thị Hồng yêu cầu các TCTD triển khai các giải pháp về tiền tệ, tín dụng, ngoại hối; chấp hành nghiêm đối với các quy định, chỉ đạo về tiền tệ, ngoại hối và hoạt động ngân hàng của NHNN.

Ngoài ra, triển khai hiệu quả các công tác cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu; đối với các khoản nợ tại TCTD cần tuân thủ các quy định về phân loại, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro, triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp nhằm hạn chế phát sinh nợ xấu mới; đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng,…

Kết luận

Trên đây là những thông tin tổng quan về chính sách tiền tệ là gì, vai trò của chính sách này trong nền kinh tế cũng như các chính sách tiền tệ đang được áp dụng tại Việt Nam hiện nay. Hy vọng qua những nội dung vừa rồi sẽ giúp bạn đọc quan tâm trang bị được những kiến thức hữu ích. Cảm ơn bạn đã theo dõi bài viết.

Đánh giá bài viết

Tôi là Lan Anh - Biên tập viên phân tích tài chính, với 5 năm tìm hiểu về thị trường tài chính cũng như đầu tư. Rất hy vọng những kiến thức mà tôi học hỏi và tích lũy được có thể hỗ trợ, cung cấp đến các bạn những thông tin chính xác, tư vấn hỗ trợ xử lý các dịch vụ tài chính, đầu tư hiệu quả nhất!

dang-ky-dau-tu-nhat-nam

ĐĂNG KÝ TƯ VẤN MIỄN PHÍ NGAY

    BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC